Tên của đóa hồng

Mình không thường viết về nhạc, vì kiến thức nhạc nhẽo của mình chắc chẳng kín lòng bàn tay – đấy là đã để cỡ chữ 18 thay vì 13-14 như bình thường rồi đấy. Hôm trước lang thang trên mạng, nghe chuyển bài tự động ngẫu nhiên trên Youtube, bỗng dưng đọc được comment bên dưới một bản nhạc được chơi bởi Jacqueline du Pré. Comment đại ý thế này:

“Tôi đã già cỗi quá rồi. Tôi nhớ trước kia, có lần tôi đã từng đi ngang qua Jacqueline đang ngồi trên xe lăn – ở Marylebone – tôi nghĩ bà ấy sống ở đó. Được sống trên cùng một hành tinh với bà ấy thật sự là niềm vinh dự lớn lao.”

Mình thấy đồng cảm với cái comment ấy vãi. Đúng thế, có những người mà ta chỉ cần nhận thức được rằng họ đang ở đâu đó trên cùng cõi trần gian ô trọc này thôi, thì cũng đã là một niềm an ủi vô bờ đối với ta rồi.

ảnh Godfrey Argent chụp Jacqueline du Pré năm 1969 (nguồn ảnh: Phòng trưng bày chân dung Quốc gia Hoa Kỳ)

Đối với mình, Jacqueline du Pré là một trong những nghệ sĩ cello vĩ đại nhất từng xuất hiện trên đời. Bà gắn bó với cây cello từ năm lên 4. Khi ấy, dù đang chạy chơi trong nhà, nhưng khi nghe một bản nhạc trên radio và tiếng cello tấu lên, Jacqueline đứng sững lại, lẳng lặng nghe hết bản nhạc. Bà tha thiết nói với mẹ rằng mình muốn có cái nhạc cụ đã tạo ra thứ âm thanh đó. Vậy là mẹ bà mua cho bà một cây đàn cello còn to hơn chính người Jacqueline lúc ấy, một nhạc cụ thực sự chứ không phải một món đồ chơi. Vốn là một nghệ sĩ piano, mẹ bà dạy con gái chơi cello, rồi viết những tiểu khúc để Jacqueline luyện tập. Không chỉ có vậy, với mỗi bản nhạc, trong khi Jacqueline còn say ngủ, mẹ bà cặm cụi ngồi vẽ những bức tranh diễn tả những gì hiện lên trong bản nhạc. Đó dường như là cách mà nhạc cảm của Jacqueline được bồi đắp, cũng là cách để khiến cho việc chơi nhạc trở thành niềm vui bất tận đối với cô bé. Bạn phải được thấy khuôn mặt rạng ngời, thấy ánh mắt long lanh của Jacqueline khi bà nhắc lại những chuyện này cơ, nó tràn ngập một niềm yêu thương và hạnh phúc, vì đây là một trong những ký ức tuổi thơ đẹp đẽ nhất. Jacqueline kể rằng, mỗi sáng thức dậy, bà lại được nhận một bức tranh mới, với những nét vẽ dễ thương, tươi sáng, về khúc nhạc ngắn của mẹ bà. Sau khi thay quần áo, hai mẹ con sẽ xem tranh rồi hòa nhạc cũng nhau. Hành trình âm nhạc của Jacqueline đã bắt đầu từ những bức tranh, bản nhạc và những buổi tập đàn cùng mẹ như thế.

Tên tuổi của Jacqueline nhanh chóng được công nhận với phong cách trình diễn chín chắn, khả năng biểu đạt cảm xúc mạnh mẽ chứ không chỉ quan tâm tới khía cạnh phô diễn kỹ thuật. Học cello cùng một vị đại tông sư tại London, năm 13 tuổi, lần đầu tiên bà được thầy đưa cho một bản nhạc đặc biệt phức tạp, là bản Concerto cung Mi thứ cho Cello (Op. 85) của Edward Elgar. Jacqueline chỉ mất 3 ngày để hoàn toàn thông thuộc Chương I của bản concerto.

Buổi công diễn đầu tiên của Jacqueline du Pré với bản concerto cho cello ấy thực sự là một quả bom. Nhạc trưởng – ngài John Barbirolli thì sắp thua cược một cuộc đua ngựa, còn dàn nhạc thì uể oải tập hợp trong tâm trạng khá u ám. Vậy mà khi tiếng đàn của Jacqueline vang lên, cả thính phòng bừng tỉnh. Mọi điều khác bị cuốn phăng đi bởi nội lực và cảm xúc mãnh liệt của bà. Cả dàn nhạc chơi như lên đồng, còn thính giả bên dưới chìm đắm trong giai điệu mê hoặc. Nhạc trưởng Barbirolli nói về buổi hòa nhạc ấy: “Tuyệt diệu tới nỗi tôi không thể thốt nên lời”.

Năm 20 tuổi, cùng với Barbirolli, Jacqueline du Pré lần đầu tiên ghi âm bản Concerto của Elga, và ngay lập tức, bản thu trở thành tác phẩm kinh điển. Với mình, chưa một nghệ sĩ cello nào, dù là trước kia hay sau này, có thể vượt qua Jacqueline và bản thu ấy. Bà đã chơi với kĩ thuật thượng thừa cùng cảm xúc mãnh liệt, thể hiện một cách trọn vẹn nỗi đau, niềm thất vọng, sự hoang mang được Elgar gửi gắm trong bản nhạc. Một giai điệu đẹp não nề, niềm đau, thất vọng cũng chính là sự thiết tha với cuộc đời, vì chỉ có yêu mới thấy đau, mà nỗi đau thấm thía chừng ấy, đủ thấy tình yêu lớn tới mức nào. Jacqueline đã đem sự rung cảm của mình vào từng đường vĩ. Khi Jacqueline chơi, có cảm giác như bà và cây cello là một cơ thể duy nhất. Mạnh mẽ mà không cường điệu, dữ dội và quặn thắt mà vẫn dịu dàng, tự nhiên và bản năng như con cá bơi dưới nước, con chim hót giữa trời, như mùa thu lá rụng mây trôi trên đầu. Jacqueline làm mình nhớ tới Xuân Quỳnh. Thầy dạy cello của Jacqueline – danh cầm Mtislav Rostropovich sau khi nghe Jacqueline chơi bản Cello Concerto này đã lẳng lặng loại bản thu của chính ông ra khỏi danh sách các tác phẩm của mình. Sau này, khi có người thắc mắc về sự thiếu vắng của bản thu ấy, thì Rostropovich trả lời, Jacqueline du Pré đã chơi quá xuất chúng, vượt xa cả ông, tới mức ông không muốn nhắc tới bản thu của mình nữa.

Dù đạt tới vinh quang từ khi còn rất trẻ, sự nghiệp của Jacqueline lại thật ngắn ngủi. Vừa mới tỏa sáng ở đỉnh cao năm 20 tuổi và sau đó vài năm thì lập gia đình với Daniel Barenboim – một tay đàn cũng thuộc hàng nhất lưu cao thủ trong ngành piano, sau này chuyển sang làm nhạc trưởng cũng không kém phần hoành tráng. Tới năm 27 tuổi, Jacqueline bị mắc chứng tê liệt thần kinh, khiến tay bà không còn cảm giác nữa. Jacqueline phải dừng chơi cello, hi vọng có thể chữa khỏi, quay lại với sân khấu, nhưng bệnh tình không những không thuyên giảm mà còn nặng thêm. Bà giã từ hẳn sự nghiệp biểu diễn để chuyển sang dạy nhạc, và những năm sau cùng của cuộc đời, bà phải gắn liền với chiếc xe lăn. Tháng 10 năm 1987, Jacqueline qua đời ở tuổi 42 trong niềm thương tiếc của tất cả đồng nghiệp, giới âm nhạc, thính giả trên khắp thế giới, song bao nhiêu tiếc thương cũng không đủ, Jacqueline du Pré đã thực sự không còn nữa.

(Nguồn ảnh: Thư mục lưu trữ của Dàn nhạc Giao hưởng Chicago)

Mình nghĩ một trong những lý do khiến Jacqueline chơi bản concerto cho cello của Elgar tuyệt diệu đến thế, ngoài nhạc cảm, kĩ thuật và khả năng biểu đạt thượng thừa, chính là bởi cả hai đều đầy tình yêu cuộc sống. Họ đều sống một cuộc đời sóng sánh cảm xúc. Elgar chính là người đã viết Salut d’ Amour, Enigma Variations, và Concerto cung Mi thứ dành cho cello là tác phẩm tâm đắc lúc cuối đời của ông. Khi ấy, Thế chiến thứ I vừa chấm dứt với biết bao tàn phá hoang tàn, còn Elgar vừa thực hiện cuộc phẫu thuật cắt a-me-dan ở tuổi 60 với sức khỏe không tốt, đồng thời các kỹ thuật và trang thiết bị y tế thời đầu thế kỷ 20 vẫn còn rất sơ sài. Con gái ông kể lại rằng, ngay sau khi tỉnh lại từ ca mổ, Elgar đã đòi lấy hộ bút chì và giấy trắng để viết nên giai điệu chủ đề của bản concerto. Cả ông và thế giới đều đã trải qua một cơn bệnh nghiêm trọng, khiến ông cảm thấy mình đã già, thứ âm nhạc của mình dường như đã không còn thời thượng và không còn được công chúng chào đón nồng nhiệt như đã từng. Cuộc chiến tranh khủng khiếp cũng đã khiến ông nhận ra rằng thế giới sẽ chẳng bao giờ có thể bình yên như trước kia được nữa. Và đó chính là âm hưởng chủ đạo của bản concerto.

Sau này, một người bạn kể rằng, khi tới thăm Elgar trong những ngày cuối đời của ông, vị khách nghe thấy Elgar nằm trên giường bệnh, miệng ngâm nga bản Concerto cung Mi thứ dành cho cello. Khi nhận ra người bạn, Elgar nói, “sau khi tôi qua đời, nếu một ngày, anh bỗng nghe văng vẳng giai điệu này trong cơn gió thổi qua những ngọn đồi ở miền Malvern thì đừng sợ, đó có lẽ chính là tôi đấy.”

Có một sự zíc zắc thú vị là, buổi công diễn ra mắt bản concerto đã bị thất bại thảm hại, dường như do nhạc trưởng làm việc rất tệ còn các nhạc công không đủ thời gian tập luyện nên đánh một cách khá chệch choạc. Buổi biểu diễn bị công chúng chê bôi thậm tệ, giới phê bình ném gạch tơi bời đủ để xây thêm hai cái Cầu London nữa. Giữa những nhạc công bè cello trong buổi ra mắt ấy, có một nghệ sĩ trẻ tên là John Barbirolli. Phát hoảng với sự đổ vỡ tan nát của buổi diễn, thêm vào đó là bị giai điệu cuốn hút, Barbirolli đã tự tập bản concerto và sau này đã biểu diễn thành công cùng một dàn nhạc khác. Nhưng dấu ấn của ông không chỉ nằm ở vai trò nhạc công. Bốn mươi sáu năm sau buổi ra mắt đầu tiên của bản concerto, cũng chính John Barbirolli là nhạc trưởng cầm cây đũa phép chỉ huy buổi biểu diễn và thu âm concerto cung Mi thứ với Jacqueline du Pre chơi soloist – bản ghi âm kinh điển nay đã trở thành bất tử. Lạ thay, Elgar, Barbirolli và Jacqueline du Pré dường như người nọ đã tình cờ kết nối với người kia theo một cách ngẫu nhiên kì diệu nào đó. Những ngày này, có lẽ họ đang ngồi bên tách trà, trò chuyện với nhau trong im lặng, trước khi cùng hợp tấu bản concerto thiết tha, đớn đau và mãnh liệt dành cho bản thân và cả thế giới.

Tiết mục tập làm văn tới đây là kết thúc, xin hãy nghe thử Chương I của Concerto cung Mi thứ (Op. 85) dành cho cello của Elgar, do Jacqueline du Pré trình bày cùng nhạc trưởng John Barbirolli:

Còn nếu bạn có thời gian, thì đây là bản concerto như trên nhưng trọn gói nguyên con đủ 4 chương, mà mình đánh giá là hay hơn bản sau này cũng do chính Jacqueline chơi dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Daniel Barenboim – chồng bà.

Cuối cùng, cho mình kể nốt cái chuyện con vòi con voi về tiêu đề của post này. Bạn có biết không, trước khi Jacqueline qua đời ít lâu, một nhà vườn ở Anh muốn lấy tên bà đặt cho một trong số các giống hoa hồng mới được nhà vườn này tạo ra. Khi ấy, mắt Jacqueline đã kém rồi, không thể nhìn thấy rõ nữa, nên bà dùng mũi để cảm nhận hương thơm của từng giống hoa, chọn ra giống hồng mà bà yêu thích nhất, giống hồng mà mùi hương của nó thể hiện được đúng tinh thần của bà nhất. Giống hồng Jacqueline du Pré được chính thức đặt tên vào năm 1988, một năm sau khi bà qua đời. Đó là giống hoa hồng trắng tinh khiết rạng rỡ thơm tho, có sức sống mãnh liệt chống lại bệnh tật, sẽ tươi tốt và nở hoa ngay cả khi đâm rễ trên những mảnh đất cằn.

Khóm hồng Jacqueline du Pré

Mới ra lò

Be First to Comment

Quăng một viên đá/ Tặng một bông hoa ?