Chuyện mất vệ sinh

Trong cuốn Ba phút sự thật của nhà thơ Phùng Quán, có viết một câu chuyện về nhà thơ Đoàn Phú Tứ, tác giả của “Màu thời gian”. Số là hồi 1949 nhà thơ Đoàn Phú Tứ là nhà thơ nổi tiếng, thanh danh vang dội, nên được đại tá Trần Dụ Châu – Cục trưởng cục Quân nhu mời đến dự đám cưới một tay đàn em thân cận là Lê Sỹ Cửu. Trong cảnh kháng chiến còn gian lao, những người lính đang chiến đấu trong bùn đất hầm hào thì đám cưới của Cửu được tổ chức xa hoa lộng lẫy với rượu vang, đồ ngon, có ban nhạc chơi giúp vui. Trần Dụ Châu là chủ hôn, mời nhà thơ Đoàn Phú Tứ lên đọc đôi câu thơ. Đoàn Phú Tứ đứng lên dõng dạc đọc: “Bữa tiệc cưới chúng ta sắp chén đẫy hôm nay, được dọn bằng xương máu của chiến sĩ!” Trần Dụ Châu và những kẻ có mặt ở đó đều tái mặt vì giận. Một tên vệ sĩ của Châu lao lên tát cái bốp vào mặt nhà thơ. “Nhà thơ lặng lẽ rút khăn tay lau mặt, ném khăn xuống đất, rồi nhổ vào cốc rượu đỏ như máu đầy tràn trước mặt, và đĩnh đạc bước ra khỏi phòng cưới.” Continue reading

Chuẩn bị ra mắt Hearts and Minds


Thời gian này tớ tương đối im lặng trên blog là để chuẩn bị cho ra mắt một quả bom tấn: phụ đề Việt bộ phim tài liệu Hearts and Minds của đạo diễn Peter Davis làm năm 1974 về chiến tranh Việt Nam. Đây có thể coi là một trong những bộ phim trong phong trào phim phản chiến, cho thấy một góc nhìn khác với những phim tài liệu đã khá phổ biến ở Việt Nam như: Battlefield Vietnam, The secrets of Vietnam war, History Channel: Vietcong, Declassify… Nó không nhằm mục đích tái hiện sự ác liệt của cuộc chiến, những cuộc hành quân, những trận xung đột, những hồ sơ mật của dinh Độc Lập hoặc Lầu Năm Góc… Hearts and Minds là cuộc sống, suy nghĩ, trải nghiệm của cả những người lính viễn chinh Mỹ lẫn những người Việt bản xứ. Nó không đề cao, không tố cáo, đơn giản chỉ là cho người xem thấy, quyền đánh giá thuộc về người xem. Năm 1975, phim đã đoạt giải Oscar cho Phim tài liệu hay nhất.

Thực ra Hearts and Minds đã được Đài truyền hình kỹ thuật số VTC phát cách đây một thời gian, và trên mạng đó đây cũng có người rao bán bản thu lại từ TV của phim này. Tuy nhiên bản đó đã được thuyết minh tiếng Việt đè lên âm thanh gốc, đồng thời chất lượng chỉ là TVrip, tương đối thấp. Tớ đã kiếm được bản DVDrip chất lượng cao hơn nhiều với phụ đề tiếng Anh dạng soft sub và đã bắt đầu dịch từ khá lâu để có thể đem đến một bộ phim tài liệu giá trị, hình ảnh chất lượng tốt, âm thanh nguyên bản. Cái cảm giác được nghe giọng nói, thấy cảm xúc, sắc thái của người nói thể hiện trong đó hoàn toàn khác hẳn với được nghe thuyết minh tiếng Việt.

Hearts and Minds là một phim tài liệu chân thực với những cảnh quay thuộc loại mẫu mực của thể loại này. Đạo diễn Michael Moore (của Fahrenheit 11/9, Jacko…) đã nhận xét về nó: “không chỉ là bộ phim tài liệu hay nhất tôi từng xem mà còn có thể là bộ phim hay nhất mọi thời đại“. Ông cho biết chính Hearts and Minds đã là một trong những bộ phim truyền cảm hứng cho các phim tài liệu của mình.

Và cuối cùng, tên của phim là dựa trên một câu nói của tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson: “Chiến thắng cuối cùng phụ thuộc vào trái tim và lý trí của những người đang thực sự sống ở nơi đó

Tớ lấy thương hiệu của mình ra để đảm bảo đây là một bộ phim đáng xem.

————————————————————-

Hiện đã làm được một nửa tổng số công việc, túc tắc dịch tiếp. Dự kiến sẽ hoàn thành sau 3 ngày nữa, mất thêm vài ngày hiệu đính, chỉnh sửa, timming cho ngon, khoảng dầu tuần này sẽ chính thức xuất hiện trên giang hồ. Tớ sẽ up phim lên host và để direct link cho mọi người tiện download trong vòng 1 tuần, sau đó mọi người vẫn có thể down từ mirror Mediafire như mọi khi.


Thông tin tiếp theo sẽ được cập nhật trên http://ngaunhien.info

Những kẻ chết chém


Hôm trước, vì thằng em không thể viết được chữ nào về “Hà Nội trong tim em”, tớ điên tiết bật phim “Hà Nội trong mắt tôi” lên cho nó xem. Rồi chợt nhớ đến một đoạn nói về Quang Trung Nguyễn Huệ trong ấy.

Năm 1786, Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc Hà, lấy danh nghĩa Phù Lê diệt Trịnh, thanh thế rất mạnh. Diệt Trịnh rồi, Huệ vào chầu vua Lê Cảnh Hưng, quân đóng cả ở ngoài thành. Vua tôi đều sợ Huệ có bụng làm phản.

Lại nói Nguyễn Huệ vào chầu vua, lưng đeo kiếm, áo bào tung bay, bước phăm phăm giữa thềm rồng, tiến đến ngai vàng. Vua xanh mắt sợ. Chợt có một viên quan là Trương Đình Phát tiến ra chặn lại, vòng tay lễ phép nhưng dõng dạc nói:

_ Phép nước, lên điện không được đeo vũ khí. Xin tướng quân cởi kiếm.

Huệ sững người, trừng mắt nhìn viên quan dám to gan chặn đường mình. Phát vẫn điềm nhiên. Khựng lại vài giây, rồi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ cũng bình thản trao kiếm cho Phát.

Phim tài liệu Hà Nội trong mắt tôi bình rằng: “Quốc gia chỉ có thể trường tồn và hưng thịnh khi kẻ thường dân cũng dám nói với bề trên điều ngay thẳng, và người có quyền uy phải biết nghe kẻ dưới mình những điều phải trái.” Hãy biết rằng, trong chùa Bộc, vẫn còn một pho tượng thờ Quang Trung ngay từ thời Gia Long Nguyễn Ánh đang điên cuồng trả thù và xóa bỏ những dấu vết vinh quang của triều đại Tây Sơn Nguyễn Huệ. Bên trên tượng không phải chữ “Uy”, chữ “Dũng”, mà là một chữ “Tâm”

Nhân nhớ đến chuyện này, lại nhớ đến một chuyện khác, từ tít tận đời Tần Nhị Thế.

Số là khi ấy, Tần Thủy Hoàng mới mất. Tần Nhị Thế Hồ Hợi lên ngôi. Trong triều, thừa tướng Triệu Cao hoành hành, uy quyền nghiêng nước. Triệu Cao vốn có bụng làm phản nên dò ý quần thần. Một hôm, nhân buổi lên triều tại cung Hàm Dương, Cao dâng lên Tần Nhị Thế một con Hươu, nhưng lại tâu rằng đây là con ngựa quý muốn tiến vua. Vua cười ha hả, nói:

_ Thừa tướng lầm rồi, đây là con hươu, sao có thể biến hươu thành ngựa được ? Vả lại, đầu ngựa mà lại có sừng là thế quái nào ?

Triệu Cao mặt không hề biến sắc, quay xuống hỏi bá quan xem đây là hươu hay là ngựa. Các quan ở dưới có người xun xoe phán như đinh đóng cột rằng đích thị là con tuấn mã, có kẻ im lặng, có kẻ kiên quyết nói hươu là hươu.

Sau Cao nhớ mặt những kẻ kiên quyết không nhận hươu là ngựa, ghép tội cho họ rồi trừ đi hết. Sự việc này trở thành điển tích “Chỉ hươu nói ngựa”.

Ôi, không biết mình đã nói câu này bao giờ chưa, rằng chỉ cần nhìn người chết là biết người sống. Hôn quân, tiểu nhân đắc thế thì trung thần bị chém, minh quân tại vị thì gian thần bị chém, thời nào cũng vậy, kể cả thời nay.

Thái sư hóa hổ

Chuyện đời Lý, có Lê Văn Thịnh thi khoa thi đầu tiên Minh kinh bác học và Nho học tam trường, đỗ đầu, được coi là Đỉnh giáp khai khoa của nền khoa bảng Việt Nam. Thịnh được vào cung, được Chấp chính Thái Hậu Ỷ Lan ủy quyền giúp vua Nhân Tông học hành. Thủa ấy vua mới 6 tuổi. Dần dần Thịnh lập nhiều công lớn, được thăng lên đến chức Thái sư – chức quan đầu triều, về ngôi thứ còn cao hơn Thái úy Lý Thường Kiệt một bậc, quyền uy nghiêng trời. Vua còn nhỏ, Thịnh ỷ tài nên có khi lấn át cả vua.

Năm 1096, vua Nhân Tông đã lớn, tự mình nắm lấy triều chính. Một lần vua đi chơi thuyền xem bắt cá trên hồ Dâm Đàm (Hồ Tây ngày nay. Xưa hồ Tây lúc mù sương thì giơ bàn tay lên không nhìn thấy ngón, vậy mà thành tên). Bỗng đâu mây mù bay tới vèo vèo. Trời mây u ám. Gió thổi vi vu. Mắt mù tai ù. Mở mắt ra, vua đã thấy trên thuyền có con hổ to bằng con sư tử vằn vện đủ kiểu trông như thật chực xông tới thơm vua một vài miếng. Nể hổ là động vật quý hiếm đang được quốc tế bảo vệ nên vua không dám làm gì. Mọi người đều tái mặt.

Gần đấy có người đánh cá tên Mục Thận, thấy sự biến vội chèo thuyền thét lên một tiếng Kiii – aaaai, tung lưới trùm phủ con hổ. Mây mù tan, nhìn lại thì trong lưới không phải hổ mà là Thái sư Lê Văn Thịnh đang nằm còng queo.

Vua cho rằng Thịnh học phép biến hình của người Đại Lý (có khi học của Đoàn Dự cũng nên), định hóa hổ hại vua. Thịnh bị khép tội phản loạn, nhưng nể công lao từ xưa đến nay nên chỉ bị cắt hết chức vụ, đày lên trại Thao Giang nơi thượng lưu sông Thao.

Dân chài Mục Thận có công cứu giá nên được phong Đô úy tướng quân, lại ban thưởng hậu hĩnh. Dần dần thăng chức lên đến Phụ quốc tướng quân, lúc mất được truy phong Thái úy. Người được tạc tượng thờ trong đình làng Võng Thị ven Hồ Tây bây giờ chính là người này vậy.

************

Lời bàn: tớ chẳng muốn làm vua, làm vua khổ bỏ xừ, còn bị khối cái ràng buộc. Càng chả muốn như Văn Thịnh, có tài, có công mà rồi cũng thành tội thần, bị bắt đi đày. Cứ như ông dân chài Mục Thận lại hay. Chỉ cần xuất hiện đúng nơi, đúng lúc, là được.

Vết đạn trên thành Hà Nội

Mấy hôm trước lang thang mãi, chả hiểu thế quái nào tớ lao thẳng vào cổng Chính Bắc Môn của thành Hà Nội (cổng bắc, nghĩa là cửa bắc, cụ thể là nằm ở Cửa Bắc í). Sau khi lục tốn 2 ngàn VND tiền gửi xe thì tớ cũng đã hì hục leo lên cái Vọng lâu để thử ngắm phố Phan Đình Phùng phát. Chưa bao giờ được ngắm con phố ấy từ một góc cao cao hơn cửa sổ thế này.

Cái Vọng lâu, trước nguyên là chỗ để quan sát, nằm ngay trên cái Cửa Bắc thành. Giờ trong ấy thờ cụ Hoàng Diệu với cụ Nguyễn Tri Phương. Thờ cũng đúng thôi, vì hai cụ là một trong số ít người dám tử thủ kháng Pháp trên cái dải Đồng bằng Bắc bộ, thậm chí cả trên đất Việt Nam này. Các cụ có thua thì cũng đâu quan trọng gì. Đối với hoàn cảnh của các cụ, dám làm còn quan trọng hơn nhiều so với những gì làm được. Kết quả là quân Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất, Nguyễn Tri Phương bị thương, bị giặc bắt, ông xé băng, nhịn ăn mà chết. Con trai ông là Nguyễn Lâm cũng trúng đạn, hi sinh trong khi chiến đấu. Lần thứ hai quân Pháp tấn công thành Hà Nội, Hoàng Diệu không chống nổi giặc, treo cổ tự tận trong vườn Võ Miếu (nay là đường Điện Biên Phủ). Có lẽ, bên bài vị 2 cụ, cũng nên đặt thêm một bát hương thờ anh linh quân và dân Hà Nội đã anh dũng chống lại giặc ngoại xâm.

Photobucket
Tự nhiên nhớ lại cái chuyện chả biết thực hư, kể về “trận” quân Pháp chiếm thành Hưng Yên. Đại khái là sau khi chiếm Hà Nội, quân Pháp xuôi sông Hồng lên chiếm thành Nam Định. Thành Nam cũng kháng cự quyết liệt nhưng rồi không trụ được lâu. Phấn khởi sau chiến thắng Nam Định, có mấy thằng Pháp trèo lên canô, uống rượu và cho canô chạy lăng quăng trên sông. Sau một hồi, đến gần thành Hưng Yên thì chả hiểu thế quái nào cái canô nóng máy, cháy béng nó mất, môtơ nổ đánh “bủm” một cái. Quan giữ thành Hưng Yên nghe tiếng nổ tưởng quân Pháp đánh thành, vội vàng chạy mất dép. Quan Án sát với Tri phủ cũng vội vàng chạy xuống, đầu hàng, dâng thành cho (hình như) 6 thằng Pháp dở hơi đang ngà ngà say rượu. Sáu thằng này loạng choạng lên bờ, chỉ có mỗi việc há mồm ra là nuốt xong một thành lớn, lương thực, bố phòng đầy đủ. Giỏi chưa !

Dấu tích quân Pháp đánh thành Hà Nội, giờ còn lưu lại hai vết đạn đại bác ngay trên mặt thành. Hai cái lỗ thủng lớn, sâu hoắm, toang hoác. Có một giai thoại rằng, sau khi quân Pháp đã chiếm xong Hà Nội, một buổi sáng, người qua lại thấy vết đạn trên thành Cửa Bắc đã có ai đó trát kín lại rồi. Đến sáng hôm sau, lại chả hiểu ma nào đã moi sạch cái đống đất trát kín vết đạn. Vết đạn vẫn lại lồ lộ. Một đêm trôi qua. Nhân vật bí ẩn nào đó tiếp tục lấp kín lỗ thủng trên mặt thành, còn để lại một tờ giấy, đại ý rằng mình không nỡ nhìn thấy nỗi nhục Hà Nội bị quân giặc chiếm, nên phải bịt kín cái vết đạn ấy đi. Một đêm khác trôi qua. Chả hiểu thế quái nào mà vết đạn lại vẫn nguyên vết đạn, chỉ thấy người nào đó dán bên cạnh tờ giấy, trong đó nói đây là vết nhục bị giặc Pháp chiếm đất, chiếm nước, nên càng phải nhìn thấy hàng ngày, để nung nấu ý chí rửa hận. Từ đó, không thấy ai lấp đầy vết đạn bắn ấy nữa.

Demo cho các ấy mấy cái ảnh tớ chụp.

Vọng lâu
Photobucket

Photobucket

Photobucket

Phía sau Chính Bắc Môn (Cửa bắc thành)
Photobucket

Photobucket

Cổng thành nhìn từ phía đường Phan Đình Phùng

Photobucket