Thần không thiện thì không đáng thờ

Ông Hổ đền Mẫu - Đồng Đăng - Lạng Sơn

Cứ đến mùa xuân hoa đua nở là người ta lại thi nhau bâu vào các đình, đền, chùa, miếu, phủ, điện để phô bày đủ thứ hành động ấu trĩ, mông muội và ngu xuẩn. Họ khấn vái xì xụp, bưng vào chùa những mâm lễ nghễu nghện gà luộc nude ngồi co quắp trên mấy lon bia, vung tiền rải khắp nơi và đốt những bó hương to như bó đuốc. Nhìn tất cả những cảnh ấy, mặc dù trong lòng thừa hiểu, tôi vẫn không thể hiểu nổi tại sao người ta lại trở nên hèn mọn, sợ hãi, quỵ lụy trước các đấng vô hình đến mức này. Người ta sợ hãi và cung kính trước cả một cục đá lăn lóc, ân cần nhét tiền xuống dưới, cắm hương bên cạnh. Người ta cúi lạy bất cứ thứ gì có vẻ là dấu hiệu của “các ngài”. Nếu giữa sân chùa, chợt thấy cái bóng của họ hơi có vẻ khác lạ, chắc họ cũng đến quỳ sụp xuống mà vái bóng của chính mình vì tưởng đức Phật hiển linh mất.

Tôi vốn là người kịch liệt phản đối trò đốt vàng mã, lại càng căm ghét trò rải tiền lẻ như một cách cố ý cho đi để mong được hoàn lại. Cho một tờ 10k vào hòm công đức thì có văn minh và hiệu quả cho thánh thần hơn ném cả mớ 1k, 2k, 5k xuống giếng thần để nó rã nát trong đấy không ?

Tại sao chúng ta lại phải sợ hãi và hèn mọn trước những kẻ đã chết rồi như thế ? Sống đẹp với những người đang sống không phải tốt hơn sao ? Bạn thắp hương lên ban thờ tổ tiên, không phải là để được phù hộ, cũng không phải vì sợ bị trừng phạt đâu, mà trước hết là bởi vì đó là tổ tiên bạn, là ruột thịt và cội nguồn của bạn, là nơi đã bắt đầu ra bạn và nơi bạn sẽ trở về sau cùng, thế thôi.

Nếu bạn sống chân thành và yêu thương mọi người, nhưng chỉ vì không đủ cung kính với thế giới vô hình mà bị thần thánh trừng phạt, thì thần thánh ấy không phải là thần thánh thiện.

Thần không thiện thì không đáng thờ.

Kỳ diệu

Em xin đặt tên bức ảnh này là: Nhà sư và Hummer

Đã đọc bài viết Thư của một Phật tử gửi Đại đức Thích Thanh Thắng này đến lần thứ 2 rưỡi rồi mà vẫn thấy nó hay ! Để lập luận rõ ràng rành mạch đầy thuyết phục thế này có lẽ mình cũng có thể viết được, nhưng viết với một thái độ tôn trọng người đối thoại với mình mà không khom lưng, hỏi mà không vặn vẹo, thổ lộ mà không trình bày, một phong thái ung dung từ tốn, cái nhìn thấy suốt, bình tĩnh và trầm ổn, như thế thì mình chịu. Mình gọi đó là một người đã đạt đến độ an nhiên.

Mình quá nóng, quá hiếu thắng, quá ham muốn và duy cảm nên không thể viết bất kì điều gì đạt đến độ này được. Không phải tại còn trẻ đâu, tính nó vậy.

Đúng ra tất cả những lễ nghi cờ quạt người ta trưng ra để “đón” xá lợi Phật kia cũng có cái lý của nó. Có thể ở cấp độ độ ngoại giao thì cần phải thế, có thể vì có bà Nguyễn Thị Doan đi cùng thì buộc phải thế cho ra thể diện quốc gia, song đến tận cùng những điều ấy, hóa ra các vị cao tăng, đại đức cũng hỉ hả với sự phô trương. Càng biện minh, người ta càng thấy các ngài thiển cận như thế nào, tâm hồn các ngài xôi thịt như thế nào.

*
*         *

Thời gian gần đây, các chùa ngoài Bắc có xu hướng quyên góp để tôn tạo hoặc quy hoạch xây mới. Chùa nào cũng to đuyềnh đoàng khủng hoảng (kinh khủng và hoảng hốt).

Tại sao trước kia chùa chiền miền Bắc lại được xây nho nhỏ thâm thấp giữa một vườn cây lớn như thế ? Có phải vì thiếu tiền hay vì tiết kiệm không ? Thưa rằng không. Phật Giáo vẫn là tôn giáo có đông tín đồ nhất đất nước này suốt hơn 1 ngàn năm qua. Chỉ cần sư thầy ới một tiếng, ngay cả những người nông dân áo vá cũng sẵn sàng tới góp cho chùa, dù chỉ là một hai ngày công cuốc đất, đảo lại ngói mái chùa.

Khác với nhà thờ của người Công giáo, thường được xây ở nơi rộng rãi, tháp chuông vút cao,  quy mô đồ sộ nhằm gợi cho con chiên cảm thấy mình thật nhỏ bé và yếu đuối, chùa miền Bắc lọt thỏm trong một không gian xanh, sư mặc áo nâu, hàng ngày cũng cuốc đất trồng cây trên mảnh ruộng của chùa như mọi người nông dân khác. Đó là sự gần gũi. Có gần mới hiểu và tin nhau được. Bước vào những sáng trưng và rộng như giáo đường, tôi không cảm thấy Phật đâu hết cả. Tôi không có người nói chuyện. Tôi cô đơn. Tôi không đến chùa để tìm sự cô đơn ấy.

Chạy theo sự rộng rãi phô trương, người ta càng ngày càng đánh mất những điều không thể cứu lại nổi. Khi người ta không tin vào Phật nữa, thì tượng Phật mất thiêng. Khi nhà sư đến với những phương tiện vật chất hiện đại để gọi đấy là điều “kì diệu”, tượng Phật mất thiêng. Tượng Phật mất thiêng, lòng tin rơi vãi mất, chỉ còn lại sự sợ hãi trước đấng siêu nhiên kiểu “có kiêng có lành” mà thôi.

Những bức tượng Phật mất thiêng ấy có muốn cháy cũng không thể tự cháy được, và hương nến xung quanh, hỡi ôi, cũng đều là đồ điện cả rồi.

Thái độ với cái vô hình

Trưa nay xem TV nghe được một cụm từ mà tí phì cơm ra cười, đấy là cái “thái độ ứng xử với thế giới tâm linh”. Thực ra cũng chẳng có gì đáng cười lắm đâu, tớ chỉ tự dưng nhớ đến hồi cách đây vài chục năm, người ta coi cúng bái là hủ tục mê tín dị đoan, dấu ấn rác rưởi của chế độ phong kiến. Thế là các làng xã từ trung ương tới địa phương thi nhau đập phá đền, chùa, đình, miếu, khiêng tượng đồng ra đúc mâm, đúc đạn, lấy gỗ cột đình về làm chuồng trâu, quẳng bát hương lăn lốc trong đống xà bần gạch đá. Vụ này cũng có tí dấu ấn học đòi từ Tung Của dẩn mỉn và Mao chủ xị. Nghe nói bên Tàu còn khiếp hơn cơ, người ta nhổ vào mặt những người thờ Phật và coi đó là tàn dư phong kiến. Kết cục những người ấy thế nào xin miễn bàn.

Mà thôi, quá khứ đã qua, nhắc lại cho có hương có hoa là đủ. Giờ xu thế đảo ngược hẳn. Âu là thời đại khác, cũng là một “thái độ ứng xử với thế giới tâm linh” khác.

Tết năm ngoái cả nhà tớ sang nhà ông anh họ, tiện chân rẽ vào chùa Thầy. Chùa đương hội nên đông như chợ, đứng xa nhìn khói hương nghi ngút có khi ối người tưởng cháy chùa. Trong sân chùa có một đỉnh hương treo sẵn biển “Đề nghị quý khách không thắp hương”, vậy mà khách thập phương vẫn cứ ôm từng bó hương to như bó đuốc, to đến mức không cách gì dập tắt lửa đang phừng phực cháy được, và cắm phầm phập vào đỉnh. Bên cạnh đỉnh hương là một xô và một chậu, trông rõ bô nhếch, mà chắc nhiều người đi lướt qua kiểu cưỡi ngựa xem chuông khéo chả hiểu để lảm gì. Nhưng chỉ cần đứng lại dăm phút là hiểu ngay thuốc fugaca diệt trừ giun như thế nào. Chả là bó hương vừa cắm xuống, thiện nam tín nữ xì xụp khấn vái lạy lục thì ngay lập tức có một lão bà (tên giao dịch là bà lão) phi ngay ra, rút bó hương, nhúng vào xô nước cái “xèoooo…” rồi thảy vào chậu. Trong chậu cũng được đầy gần đến mép. Bà lão chuyên trách tìm và diệt hương này làm việc từ sáng đến giờ chắc vất vả lắm.

Thái độ ứng xử với thế giới tâm linh này với thái độ kia quả là một trời một hố. Từ cái thời người ta thấy mình mạnh mẽ quá, coi khinh cả thánh thần đến thời người ta thấy mình yếu đuối quá, quỵ lụy theo thánh thần cũng chả được mấy nả. Mà sao dân càng giàu, nước càng mạnh, ngoại tệ và ô tô ngoài đường càng nhiều thì người ta lại càng yếu bóng vía đi thế nhỉ ?

Thực ra mà nói, ấy không phải tại người ta sợ thánh thần, mà là tại người ta mất niềm tin ở chính mình và những người xung quanh mình. Người ta không còn biết bấu víu vào đâu cả. Người ta thắp nhiều hương, cúng nhiều tiền chẳng qua là vì ngay cả thánh thần họ cũng không còn tin nữa. Càng đốt nhiều hương vòng, hương nén thì càng ít tin. Nghe vô lý phải không ? Ngay cả những người ấy, họ cũng sẽ không thừa nhận điều đó, nhưng trong vô thức, niềm tin của họ là như thế.

Niềm tin trong một thế giới đang biến đổi, cũng phải thế nào nó mới ra thế ấy chứ.

*
*        *

Bạn có thấy bức tượng Phật bà quan âm nghìn mắt nghìn tay phía trên kia không ? Thầy tớ bảo, em hãy nhìn xem, đây là một khuôn mặt Việt đích thực. Một khuôn mặt rất hiền, rất bình yên. Hai, ba nén hương cắm ở kia chỉ đủ tạo ra một làn khói thoang thoảng bay như có như không, khách ghé thăm buông lòng ngắm nhìn một bóng hình vừa thực, vừa ảo, nhưng đọng lại sau tất cả chỉ là một khuôn mặt thanh thản và nhẹ nhõm nhường ấy mà thôi.

*
*        *

*
*        *

————————–

Đang không ngủ được vì bị ám ảnh bởi cái luận văn. Cứ nhắm mắt lại là loạn lên nào người già, về hưu, trầm cảm, bệnh hoạn… giống y như hồi viết dự án HIV, ngủ toàn mơ thấy dịch vụ chăm sóc với thiếu hụt. Ngồi viết tí rồi quay lại với luận văn.


Hội làng tớ – Đức Thánh hiển linh – hiện tượng và lý giải

Mấy hôm trước về quê xem hội làng, giờ mới ngấm để viết được cái entry.

Hội làng tớ tổ chức định kì 3 năm một nhát, World Cup những 4 năm một lần, so thế nào được. Mỗi lần hội làng kéo dài ba ngày, trong đó ngày đầu tiên rước các thánh từ các Đền (Đền Thượng và Đền Hạ) ra Đình. Ngày thứ hai là lễ tế của mấy ông tư văn, các tiết mục văn nghệ karaoke làng xã. Ngày cuối cùng, lại rước các cụ thánh từ Đình trở lại Đền. Thú thực là tớ cũng không biết các thánh với lại Thành hoàng làng tớ là những cụ nào nữa. Tổng cộng có 3 thánh: Đức thánh Thượng, Đức thánh Trúc, Đức thánh Mẫu. Người thì bảo đây là 3 mẹ con, người khác quát im đi, 3 anh em đấy. Vừa thẩm thấu được đoạn 3 mẹ con hay 3 anh em thì chú tớ lại bảo, có 2 cụ là 2 mẹ con, còn 1 cụ chả liên quan. Đến đây thì tớ cũng chả hiểu thế nào nữa luôn. Thôi kệ, cứ ậm ừ coi như biết rồi vậy.

Hội làng 3 ngày nhưng rước kiệu là màn hấp dẫn nhất. Nói rước kiệu nghe có vẻ đơn giản đan rổ nhưng có khi nó kéo dài đến cả ngày, nhất là hôm rước các cụ về nhà, à nhầm, về đền. Nghe các cụ trong làng bảo do các ngài đang chơi vui, không muốn về nên các cụ cho kiệu quay tít mù, anh em khiêng kiệu chạy bở hơi tai mới đưa được các cụ về đến nơi dù quãng đường chỉ vài trăm km, á, vài trăm mét. Tớ về muộn nên chỉ xem được buổi rước về thôi. Cái đoạn thỉnh thánh nhập kiệu, nghi lễ các kiểu nói chung không có gì để nói, mà có nói cũng dài dòng lòng thòng lắm. Ngại !

Trong sân đình đã để sẵn 4 kiệu, gồm kiệu 2 Đức thánh ông, một đức thánh Mẫu, và một kiệu có bát hương. Các phu kiệu (đều là trai đinh trong làng, riêng kiệu Mẫu thì là các cô gái) vừa nâng kiệu lên, kiệu đã quay cuồng loạn lên, lao cứ gọi là vèo vèo như tàu hỏa. Những người đã từng khiêng kiệu Thánh mấy năm trước bảo, kiệu nó tự quay, người khiêng không ngừng lại được. Kiệu nào quay càng nhiều thì có lẽ là trong số những người khiêng kiệu đã có người ăn ở sai trái gì đó, giờ bị các thánh phạt. Cái sân đình bé tí hin mà 4 cái kiệu quay không hề chạm vào nhau, dù có lúc lao vào đám đông làm mọi người ré lên rồi chạy tán loạn. Mãi mà không đưa các cụ ra khỏi sân đình được. Kiệu chạy ra rồi chạy vào, mấy ông cầm cờ với cầm đồ nghi trượng đi theo kiệu cứ chạy té re theo kiệu. Đến gần trưa, người ta khấn xin một hồi, rồi gieo tiền xem quẻ, các cụ mới cho một âm một dương, đồng ý đi.

Đi nào có phải là đi hẳn, còn dằng dai chán. 4 Kiệu chạy lên chạy xuống, thỉnh thoảng quay quay, thỉnh thoảng còn chạy giật lùi (xem đoạn clip để biết thêm chi tiết.) Mãi đến 3h chiều, đám rước mới đưa được các cụ về, thế là xong.