Tam giác Trung Quốc – Campuchia – Việt Nam

Cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 là cơ hội của hàng tá các nhà chính khách, nguyên thủ quốc gia, nhà báo, nhà văn và nhà thơ nhả ngọc phun châu, tung ra hàng lô lốc những câu danh ngôn về chính nghĩa, chiến thắng, cùng hi sinh. Ấy vậy mà nơi xuất phát của tất tật những món ấy lại từ một con người lãnh đạo một đất nước: con người là Hitler, đất nước là nước Đức Phát xít.

Thực ra, dù quy mô của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam giữa Việt Nam và Campuchia không bằng cái mắt muỗi nếu so với Thế chiến II, nhưng cuộc chiến tranh này đã kết thúc cái những kẻ mà so về sự điên khùng, dã tâm và máu lạnh, Quốc trưởng Hitler và các chiến hữu của ông còn phải gọi bằng cụ. Đó là Polpot, Iêng Xari và các đồng đội.

Người đàn ông này được thế giới biết đến với cái tên: Polpot

Ngày nay, người ta có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin về Khmer đỏ cùng dấu ấn những tội ác của chúng, song nguồn tư liệu chính thức bằng tiếng Việt được phổ biến một cách không đầy đủ, rất ít sách báo của người Việt Nam nói về cuộc chiến với Khmer đỏ, càng hiếm tài liệu từ nước ngoài được dịch ở Việt Nam trong chủ đề này. Tôi quay về với một cuốn sách xuất bản từ năm 1986 của NXB Thông tin lý luận: Tam giác Trung Quốc – Campuchia – Việt Nam của Winfred Burchett – một nhà báo Australia được phương Tây coi là “Thân cộng”, một con người theo sát cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam trước đây và cuộc chiến với Khmer đỏ sau này, người đã nhiều năm sống trên đất nước Campuchia, người không hề xa lạ với những Norodom Sihanouk, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ…

Đọc Tam giác Trung Quốc – Campuchia – Việt Nam là hành trình lần theo những mối dây chằng chịt để tìm hiểu xem tại sao trên trái đất lại có thể xuất hiện những kẻ reo rắc kinh hoàng ở một mức độ sâu sắc đến như vậy. Winfred Burchett cũng không giấu diếm – và không thể giấu diếm sự ghê tởm đối với tội ác diệt chủng của Polpot và những người bạn. Ông gặp gỡ những người bạn của mình, Sihanouk, Lê Đức Thọ, cả những nhân chứng lịch sử may mắn sống sót qua thời buổi chết chóc ấy để tái hiện một bức tranh toàn cảnh những điều đã diễn ra.

Winfred Burchett dẫn lại những gì mà bà Đơnidơ Aphôngxô, sinh ra ở Phnom Penh và có chồng là một người Việt gốc Hoa kể:


“Trong nửa cuối năm 1976, nạn đói đã buộc mọi người phải tìm cách ăn trộm ngoài đồng và lung kiếm đồ ăn trong rừng để sống. Phản ứng của bọn trùm Ăngca () địa phương là dung những kiểu hành quyết tàn ác nhất để gieo rắc sự kinh hoàng vào tận tâm can mọi người. Bị đưa đi “rừng tây” cũng đồng nghĩa với việc bị tra tấn đến chết.

“Mọi người, từ trẻ đến già, gặp cái gì là vớ lấy cái đó: sắn, rau, mía… Nhưng nếu bị bắt quả tang, thì hãy cầu nguyện đi và phó thác linh hồn cho Chúa! Một hôm, một cậu bé tên là Tusơ bị bắt vì dám nhổ trộm mấy củ sắn. Được thông báo về việc này, Tà Linh (ăngca trưởng của xóm) chỉ nói: “Đưa nó đi rừng tây”.

Đơnidơ Aphôngxô mô tả lại cảnh cậu bé bị “ba tên đồ tể” dẫn đi ra sao và bà đã theo sau cách một quãng khá xa như thế nào để chứng kiến những gì đã diễn ra. ẩn mình trong một bụi rậm để “có thể nhìn thấy mà vẫn không bị lộ”. “Đứa bé chịu tội, từ thắt lưng trở lên để trần, bị trói vào một than cây, mắt bị bịt kín. Tên đồ tể Tà Xốc, tay cầm một con dao to, rạch một đường dài vào bụng nạn nhân tội nghiệp làm nó gào lên đau đớn như hoang thú (tới tận hôm nay tôi vẫn còn nghe tiếng em gào). Máu xối ra từ mọi chỗ và từ ruột trong khi Tà Xốc lần tìm lá gan, cắt rời ra và chon gay vào một cái chảo đã được Tà Chìa đun nóng. Chúng chia nhau lá gan đã nấu chin, ăn một cách hết sức ngon lành. Sau khi chon xác đứa bé, chúng bỏ đi, hể hả. Cho đến khi chúng đã đi xa, tôi mới dám rời nơi ẩn náu”.


Sọ các nạn nhân của Khmer đỏ được lưu giữ trong Skull Tower


Hãy nhìn những sọ người này. Đây là đầu lâu những nạn nhân của Polpot, được lưu giữ tại Skull Tower như một cách tưởng niệm những người chết dưới tay Khmer đỏ và nhắc nhở thế giới về những cơn điên cuồng diệt chủng. Những sọ người có vết nứt hoặc vỡ là những người may mắn bị giết bởi những nhát cuốc, xẻng, búa hoặc gậy sắt, những sọ người nguyên lành là  những người ít may mắn hơn, bị chôn sống trong những hố chôn người tập thể cùng hàng trăm người khác.

Winfred Burchett cho biết, Khmer đỏ sử dụng rìu, búa, cuốc, xẻng để giết người không phải bởi tiện tay, mà vì đây là những công cụ lao động, gắn liền với công cuộc cải tạo thế giới của chúng. Khmer đỏ còn tỏ ra phong phú và sáng tạo trong cách giết người. Trong nhiều trường hợp bị tra tấn trước khi hành quyết, thì dụng cụ tra tấn là dùng lá tranh có cạnh sắc như dao hay là hình răng cưa của những loại cây như cây cọ để cứa cổ nạn nhân. Nỗi đau đớn cực độ của nạn nhân bị kéo dài, niềm vui điên loạn của bọn tra tấn – hành quyết dâng lên và dưới con mắt của Ăngca, những việc tra tấn, giết người bằng loại “dụng cụ tự cung tự cấp” như vậy thật đáng được khen thưởng!. Chúng chia người Campuchia ra thành 3 loại người:

– Dân cũ: những người theo chúng từ khi chúng còn sống trong các chiến khu
– Dân mới: những người sông trong các thành phố thuộc quyền quản lý của Lon Non sau khi Lon Non làm cuộc đảo chính gạt bỏ quốc vương Norodom Sihanouk, những người này có tội là không “tự giác” bỏ cuộc sống bình thường để vào rừng theo Polpot.
– Trí thức: những người có hiểu biết, ít hoặc nhiều. Đây là những người phải giết tận gốc, không cần xét xử. Dấu hiệu nhận biết những người trí thức là da trắng, tay không có chai, và có thể nói được ngoại ngữ, bất kể là tiếng Pháp hay tiếng Hoa.

Thật ra phân chia như vậy cũng chỉ để cho vui, bởi dù là loại người nào, bạn cũng có thể bị giết như thường, không cần lý do.

Quả thực, Khmer đỏ đã tận lực thực hiện chính sách mà Mao Trạch Đông phát biểu bằng lời: “Trí thức là cục phân“. Bằng cách tập hợp những đứa trẻ 12-16 tuổi, huấn luyện để chúng trở nên lạnh lùng và sẵn sàng xuống tay, Polpot xây dựng được một “đội quân cách mạng” mạnh mẽ, chỉ biết có chém giết mà không còn tình cảm.

Trong số những biện pháp được tính đến tôi luyện tính cứng rắn cho bọn Yotheas trước hết phải kể đến “trò chơi tàn ác”. Bọn thiếu niên mới nhập ngũ bắt đầu việc “tôi luyện cho cứng rắn trái tim và khối óc” bằng cách dùng gậy và lưỡi lê giết chó, mèo và “các loại súc vật có thể ăn thịt được” ở trong trại. Ngay cả sau chiến thắng ngày 17 tháng 4 năm 1975, khi không còn người để giết chóc, tra tấn nữa, Khme đỏ vẫn “giữ cho sung sức” bằng cách ném súc vật vào “lửa địa ngục”. Tôi đã được chứng kiến một ví dụ tại Hoàng cung, nơi tôi bị “quản thúc”. Gã Camaphiban – tức chính ủy phụ trách việc cai quản các “tù nhân Hoàng tộc” cùng đơn vị của gã rất khoái trá đối với việc lung bắt chuột, đem nhốt vào lồng rồi châm lửa đốt. Chúng rất hứng thú thưởng thức cảnh chuột chạy tứ phía tìm cách thoát than, rồi đến thảm cảnh những con vật nhỏ bé ấy bị thiêu sống. Đó là cảnh diễn ra hang ngày…

Một “trò chơi” khác là tra tấn khỉ, một loài vật “cũng biết đau khổ như con người”. Bọn chúng dùng rìu chặt đuôi khỉ. Chúng xích khỉ lại và bắt khỉ chạy theo chúng; chúng kéo dây mỗi lúc một căng làm cho vòng xích quấn quanh cổ khỉ dần dần thít chặt. Không ai có thể chịu nổi cái cảnh ấy, tiếng thét ấy, vậy mà bọn Yotheas lại cho là hết sức thích thú. Cách Hoàng cung không xa có một trại nuôi các sấu đặc biệt của một đại đội Yotheas. Chúng lấy khỉ sống để nuôi cá sấu. Ngày ngày, bọn Yotheas ném khỉ xuống hố và vui thú đứng nhìn cảnh những chú khỉ bất hạnh thét lên khủng khiếp và cố trèo ra khỏi hố mà không được, rồi sau đó bị khuất phục, ngây ra trước cái nhìn như thôi mien của những con cá sấu quái đản, rồi bị cá sấu vồ lấy, ăn ngấu nghiến”.


Cũng có bằng chứng cho thấy ở nhiều trại nuôi cá sấu, Khmer đỏ dùng trẻ con để làm thức ăn cho cá sấu. Cũng có những cách khác ít nhân đạo hơn nhằm  giết những đứa trẻ “thuộc giai cấp bóc lột”, hoặc những đứa trẻ phạm tội, như cầm chân quật thẳng vào gốc cây cho vỡ sọ, hoặc một tên tung đứa trẻ lên không, tên khác giương súng bắn chết đứa trẻ giữa không trung.

Tất cả những gì Khmer đỏ đã làm là nhằm xây dựng một xã hội tập thể, không còn sự tồn tại của cái cá nhân, của văn học nghệ thuật, truyền thống và quá khứ, không còn giai cấp, không có trí thức, chỉ có những con người “biết nghe lời”. Một thứ Chủ nghĩa quốc gia điên loạn kiểu Mao được thí điểm trên chính đồng bào của Polpot. Khoảng từ 1.2 đến 1.7 triệu người chết dưới bàn tay Khmer đỏ, bằng gần 1/3 dân số Campuchia lúc đó (7.1 triệu người).

Đứng sau cơn điên loạn ấy, người ta thấy ngày càng rõ bóng dáng của người anh em Trung Quốc. Bắc Kinh đã thể hiện tinh thần sẵn sàng đánh Việt Nam đến người Campuchia cuối cùng, cũng như đã từng quyết tâm đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng trước kia. Bằng sự chi viện cả về vũ khí, giúp đỡ huấn luyện và cố vấn quân đội, viện trợ hoàn lại và không hoàn lại, sự ủng hộ mạnh mẽ về tinh thần cũng như áp lực ngoại giao, Trung Quốc tiếp máu cho Khmer đỏ với mục đích xa nhất là ngăn cản Campuchia và Lào trở thành “chư hầu” của Việt Nam, ngăn cản tầm ảnh hưởng của Việt Nam đang ngày càng rộng lớn tại khu vực Đông Nam Á.

Thêm một chi tiết cuối cùng nữa, để thấy quyết tâm tiêu diệt toàn bộ dân Việt Nam của Khmer đỏ:


“Với tất cả sự nghiêm túc của mình, các nhà lãnh đạo Khme đỏ đã ra lệnh cho quân và dân của họ tiêu diệt người Việt nam với tỷ lệ 1 người Campuchia diệt 30 người Việt nam. Các nhà lãnh đạo Khme đỏ tính toán như sau: “Chỉ cần hy sinh 2 triệu người Campuchia, chúng ta cũng có thể tiêu diệt 60 triệu người Việt nam và ta vẫn còn 6 triệu người Campuchia để xây dựng và bảo vệ đất nước
”.*


Trời, người ta nói về cái chết của 2 triệu đồng bào của chính họ một cách nhẹ nhàng và hững hờ vậy sao ?

Điều quan trọng là khác với những hồi ký của các nhân chứng lịch sử, như Hành trình qua cánh đồng chết của Chanrithy Him hay Âm nhạc xuyên màn đêm của Daran Kravanh, cuốn sách của Winfred Burchett thể hiện những mảnh lịch sử khác nhau dưới con mắt của một nhà báo lão luyện, quan hệ rộng và những phân tích sắc sảo làm sáng tỏ được nhiều điều sau lớp sương mù.

Đọc Tam giác Trung Quốc – Campuchia – Việt Nam, trong tôi cồn cào cảm giác phẫn nộ, ghê tởm tới mức lộn mửa, không chỉ bởi tình đồng chí anh em lật mặt thành thù địch, qua những thông tin chân thực về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc mà Campuchia là con tốt thí, mà còn cả sự bất lực khi lật giở hàng trang sách chứa đựng những cơn điên loạn kinh hoàng của lịch sử. Dù thế, hay đúng hơn, chính vì vậy, đây là một cuốn sách đáng đọc.

*

*     *
*

———————————————————-
Các trích dẫn:

*
: Winfred Burchett trích Norodom Sihanouk: Biên niên sử chiến tranh và hy vọng, Paris, Hachett Stock, 1979, tr.136-137
**
: Winfred Burchett trích Norodom Sihanouk: Biên niên sử chiến tranh và hy vọng, Paris, Hachett Stock, 1979, tr.110

********

  • Tải bản PRC : Mediafire (nguồn: Topic ebook dành cho BB – tinhte.com).
  • Tải bản PDF: Mediafire (nguồn: chịu không nhớ nổi)

Tải phần mềm đọc file PRC: Mobipocket Reader.