Bạn già

Có một lần tôi đã viết, một trong những thử thách lớn nhất của tuổi già là phải lần lượt chứng kiến những người bạn của mình ra đi.

Ông ngoại có một người bạn già kém ông gần chục tuổi, là ông K, năm nay cũng bảy mấy rồi. Thực ra đáng lẽ phải gọi ông K là bác, ông lấy vợ sinh con đều muộn, con gái ông cũng bằng tuổi tôi, cấp một còn học cùng nhau. Hồi đó ông ngoại đi đón thằng cháu ngoại, gặp ông K đi đón con gái, tự dưng làm quen rồi chơi với nhau từ bấy đến nay, mặc kệ chuyện một đứa con và một đứa cháu đã không còn học chung với nhau nữa từ hồi lớp… 3.

Một lần tiếp ông K xong, ông ngoại chạy sang bảo, ông thích ông K lắm. Vừa bật cho ông í xem bộ Ký sự Thăng Long, ông K cũng hứng thú, vì mình với ông K đều người Hà Nội, trước ông K học trường Đỗ Vị, mình học trường Bưởi, xem về Hà Nội thấy quen thuộc ghê lắm. Mà hay cái là cái gì mình thích thì ông ấy cũng thích, mình nói ông ấy hiểu ngay, nên nói chuyện rất thích !

Làm chính trị

Hôm trước ngồi nói chuyện với ông ngoại về việc học hành hồi xưa, ông kể vào lớp sơ học đồng ấu như thế nào, xong học giỏi như thế nào, xong chả biết kể thế nào lại lạc sang chuyện hoạt động cách mạng.

Ông ngoại hoạt động từ trước tháng 8/1945 ở Sài Gòn, từng tham gia khởi nghĩa giành chính quyền, rồi sau ra Ủy ban kháng chiến Trung Bộ, rồi ra Bắc. Ông kể hồi Kháng chiến 9 năm, ông từng làm Bí thư Thanh niên cứu quốc Liên khu Ba (bao gồm cả Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Kiến An, Hải Phòng, Thái Bình, Hà Nội). Có thời gian ông H, anh ruột ông ngoại thì làm Bí thư Thanh niên cứu quốc Liên khu Việt Bắc, ông ngoại Bí thư Liên khu Ba, nắm hết thanh niên của Đồng bằng sông Hồng trở ngược lên. Lớp chính trị đầu tiên của Trung ương Đảng  mở trong thời kỳ Kháng chiến do ông Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt dạy, ông cũng được cử đi học.

Mình mới bảo, đường quan lộ của ông ngon thế còn gì. Lúc đấy mà ông chịu khó làm chính trị, làm quen, ve vãn vung vẩy với các ông ở trển một tí thì bây giờ có khi đã có cái mác Ủy viên Trung ương rồi. Bí thư Thanh niên cứu quốc Liên khu hồi ấy cũng tương đối to rồi, cứ trồi lên theo ngành Đoàn, kiếm một chân Bí thư Trung ương Đoàn rồi sang Trung ương Đảng cũng không khó. Nhất là hoàn cảnh chiến tranh, có cố gắng là lên nhanh lắm.

Ông bảo, mình là một cái thằng mà nói làm to là ngại, thà làm một cái gì nhỏ nhỏ mà làm đến nơi đến chốn thì hay hơn. Có lần ông Lê Thanh Nghị đề cử ông sang làm Vụ trưởng vụ Thông tin tổng hợp, nhưng ông cũng từ chối. Lúc đấy ông mới 40 tuổi.

Thế nên đến lúc ông nghỉ hưu vẫn chỉ là anh chuyên viên quèn, không phải Vụ trưởng Vụ phó, nên lúc xét duyệt huân chương này nọ cũng không được xông xênh như người khác.

Nhưng nghĩ lại, nếu hồi đó ông đi làm chính trị, mọi chuyện hẳn sẽ rất khác.

 

Bụi vàng

Mấy hôm nay nảy ra ý định đem đống ảnh Hà Nội xưa sang cho ông ngoại xem. Có một số ảnh tớ cũng không thể xác định được nó chụp chỗ nào, trong khi chú thích trên ảnh lại mập mờ và đôi khi sai toét. Hơn nữa lúc ông ngoại  run run cầm kính lúp soi lên màn hình laptop cũng là lúc dễ dàng gợi chuyện để ông kể lại “ngày xưa”. Trong khi ông kể chỗ này ngày bé ông hay làm gì, rồi cụ ngoại hồi xưa cho tiền ông mua gì, rồi phố này hồi đó thế này thế khác, tớ len lén bật điện thoại ghi âm lại.

Ông ngoại có lẽ là một trong những người cuối cùng của lớp người Hà Nội thực sự, khi cư dân Hà Nội còn chưa bị pha tạp quá nhiều, cũng như lối sống Hà Nội vẫn còn nguyên vẹn. Ông cũng là nhân chứng của một thời đại đầy đổi thay, từ những trước Cách mạng tháng Tám đến Toàn quốc kháng chiến, Kháng chiến 9 năm và Kháng chiến chống Mỹ… Lịch sử thì quá dài, có những câu chuyện như chả bao giờ kết thúc. Ông ngoại có tài vắt vẻo từ chuyện nọ sang chuyện kia mà nghe một lúc sau mới nhận ra. Nên trước hết tớ khai thác ở ông tất tật những gì có thể liên quan đến tuổi thơ ông và Hà Nội khi ấy đã.

Hôm trước, giở đến ảnh Dinh thống sứ Bắc Kỳ, ông kể hồi xưa ông đã được vào đây rồi. Chả là hồi ông học lớp Élémentaire (tương đương với lớp 3 bây giờ), ông từng được thưởng vì là học sinh xuất sắc. Thế là người Pháp cho đoàn học sinh được thưởng vào dinh Thống sứ, đi thăm hết các phòng, cho đi xem rối nước rồi được đích thân Thống sứ Tholance thưởng cho một cuốn sách là Miếng da lừa của Balzac do cụ Nguyễn Văn Vĩnh dịch. Hồi ấy lên nhận thưởng mà ông không có quần áo tây, chỉ có bộ áo the. May mà lúc sắp đi thì được anh bạn ở phố Hàng Sắt cho mượn cái áo pa-đờ-suy dài đến tận đầu gối để khoác ngoài. Ông bảo lúc lên nhận thưởng, có hiệu ảnh ở chỗ đồn công an trên vườn hoa Hàng Đậu bây giờ nó vào nó chụp ảnh những người được thưởng, có chụp mình đàng hoàng, còn trông thấy ảnh mình ở đấy. Tiếc là hồi đó không mua, mà cũng chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện mua những cái ảnh đấy bao giờ cả.

Nghe ông kể chuyện một lúc mới biết hóa ra cái trò vẽ bậy viết bậy lên tường di tích không phải bây giờ mới có. Ông kể hồi xưa buổi chiều ông với các bạn hay vào trong Văn Miếu ngồi học bài vì trong đấy yên tĩnh vắng vẻ lắm. Thế mà thấy trên các tường bọn nó ghi những câu thơ câu thiếc bậy bạ, giờ ông vẫn còn nhớ những cái đó, rất bậy, nhưng mà không nói ra được. Văn Miếu hồi đó là nơi để bọn gái gọi với khách vào hành lạc. Chả thể tin nổi là người ta lại vào tận Văn Miếu để làm cái chuyện ấy :|

Chuyện còn dài và tớ vẫn gỡ băng dần dần. Những gì ông ngoại kể có cái tớ đã có cái tớ chưa biết, nhưng vẫn cứ lưu giữ lại. Các nhà sử học có thể ghi chép, tìm hiểu trong chính sử, ngoại sử, có thể nói về Hà Nội với tư cách những chuyên gia, nhưng số phận những con người bình thường gắn liền vòng quay lịch sử thì lại không sử sách nào ghi chép hết được. Những người Hà Nội thuần chất cuối cùng vẫn còn giữ lại nét tinh hoa Hà Nội ấy, cũng giống như những hạt bụi vàng, để riêng lẻ thì óng ánh, nhưng tập hợp tất cả những ký ức xưa cũ lại, dần dà sẽ có cả một kho vàng.

Dạo này vàng đang tăng giá nữa chứ lị.

Như những dòng sông

Sáng về đến nhà.

Chiều nghe tin một người bạn già của ông ngoại mất, có cảm giác cay cay nơi sống mũi như mình cũng mất một người bạn. Ông ngoại nói “Ông ĐMT trong Sài Gòn mới mất, ông định…” bằng một giọng không phải quá nhiều thương tiếc, chỉ buồn. Từng người bạn của ông lần lượt bỏ ra đi, đến nỗi mỗi lần xem mục Tin buồn trên TV và báo, ông cặm cụi ngồi ghi lại đến đầy một cuốn sổ, mỗi  người được một trang bằng cỡ bàn tay. Rồi ông giở ra, ngồi kể “Thằng này, trước kia…

Ông ĐMT thì khác. Ông ngoại không phải kể lại những quãng kết nghĩa vườn đào hồi xưa nữa, vì cả nhà ai cũng biết ông T. Trước kia, khi còn khỏe, hai ông vẫn viết thư mỗi tuần một lá đều đặn cho nhau, và cái người đi bỏ thư vào thùng hàng tuần ấy là tôi cũng thuộc cả số nhà ông ở phố ĐVB, Sài Gòn. Sau thư cũng thưa hơn, nhưng thiệp chúc tết thì dứt khoát năm nào cũng phải gửi đúng dịp.

Những ngày đầu tiên ông ngoại rủ rê chơi tem, hai ông cháu hị hụi cắt phong bì lột tem, cũng toàn lấy từ bao thư của ông ĐMT. Đến nỗi hàng tuần, hai ông cháu đều mong thư ông T, người mong cái ruột, người háo hức cái tem. Hai “thằng” cứ thế chia sẻ với nhau niềm vui nho nhỏ ấy. Cho đến khi tôi lỡ lớn mất và dần dần nhạt phai trò chơi tỷ mẩn. Những cuốn sổ tem, may quá, vẫn còn.

Ông và bạn ông đều lạ. Các cụ gặp nhau, uống một chén nước lọc, rồi rủ rỉ cập nhật cho nhau tình hình những ông này bà khác ở tận đâu đâu, có khi cả hai cùng không quen, chỉ biên biết. Thỉnh thoảng cũng phát hiện ra người này người kia mình hóa ra cùng quen, hoặc cùng biết, và cuộc chuyện hào hứng lên hẳn.

Đôi lúc, tôi bắt gặp ông ngoại lần giở và lẩn mẩn đọc lại cuốn sổ tang của bà, lần thứ hai mươi hay hai mấy, không nhớ nữa.

Đồ độc của ông ngoại

Hờ hờ, nói chung là ông ngoại tớ (+ bà ngoại tớ) có rất nhiều thứ hay ho. Còn nhớ hồi bé, ông tớ cho tớ xem một lô xích xông các loại huân chương, huy chương của ông tớ. Hồi đấy tớ đâu như 4-5 tuổi gì đó, nên huy chương cũng là một loại đồ chơi mà thôi. Thế là chả hiểu tớ chơi thế quái nào mà mất béng mất một số bộ phận, cụ thể là cái cuống của huân chương Kháng chiến hạng 3 (hay 2 gì đó. Dạo này trí nhớ tớ đang tậm tịt quá). Cả nhà lao bổ đi tìm, thế mà cấm có thấy nó ở xó xỉnh nào. Nó biến đi kì diệu như là tớ đã nuốt béng mất nó rồi í. Bỏ xừ, có khi thế thật cũng nên !

Ông tớ cũng là người đầu tiên tớ biết thế nào là chơi tem. Chúng tớ chơi tem chết chứ không đủ tiền chơi tem sống. Mà do ông tớ có nhiều bạn bè từ hồi học trường Bưởi, giờ đang ở khắp nơi, các cụ lại năng gửi thư cho nhau nên tớ cũng không thiếu nguồn tem. Cứ giả như các cụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển sang liên lạc bằng email thì ước mơ sưu tập tem của tớ với ông tớ chỉ còn nước khóc bằng tiếng Mán. Demo cái cuốn sổ tem mà ông tớ tặng tớ lúc tớ 9 tuổi:

Photobucket

Còn nhớ hồi đấy, rửa tem trong một cái bô màu vàng (hic), phơi tem ngay trên ô kính cửa sổ, cuốn sổ để bày tem thì ông tớ với tớ hì hục tự làm. Thực ra tớ chỉ phụ việc cho ông làm thôi, nhưng kệ, cứ coi như tớ có góp tay góp chân vào cũng được. Giờ lớn lên, chat, mail, SMS nhiều, cũng không còn nhiều cơ hội để say và mê chơi tem như hồi trước nữa. Những người bạn của ông, giờ cũng chẳng còn lại nhiều.

Tranh thủ show thêm một số món đồ độc đáo của ông tớ. Đầu tiên là một mảnh xác máy bay:

Photobucket

Photobucket

Theo tớ đoán thì đây là một bộ phận van không khí hoặc van điều áp của máy bay. Ông tớ kể, một buổi sáng năm 1965, ông đi lên nhà ông em ruột ở Thụy Khuê. Khi lên đến nơi đã thấy cái máy bay Mỹ nằm lù lù một đống, chết cháy, vẫn đang rừng rực. Máy bay rơi cách nhà ông em của ông ngoại tớ đúng 5 bước. Nghe đâu hôm ấy, người ta bắt được hai thằng giặc lái Mỹ, một Trung tá, một Đại úy, ngay tại số nhà 73 phố Thụy Khuê. Sách Phố và đường Hà Nội của Nguyễn Vinh Phúc có đề ngày hôm ấy là ngày 19/5/1965, chẳng biết ông tớ có nhớ đúng ngày không nữa.

Ông tớ kể, lúc đấy cũng hãi, nhìn quanh không thấy ai liền vớ vội một mảnh về nhà làm kỉ niệm. May mà không vớ phải quả bom tịt ngòi nào, chứ không thì khổ.

Đồ vật độc thứ hai của ông tớ là một cái ấy:

Photobucket

Photobucket

hic, trông kinh nhỉ. Phải thông báo trước đây là sọ khỉ chứ không phải sọ người đâu, chứ không thì khối người ngất quá. Cái sọ khỉ, ông ngoại nhặt ở sân bay Cỏ ống – Côn Đảo trong một chuyến ra thăm Côn Đảo sau giải phóng. Hình như lúc đấy là khoảng cuối năm 75, đầu năm 76, miền Nam vừa được giải phóng. Sân bay Cỏ ống khi ấy vẫn la liệt xác máy bay Mỹ bị bắn cháy, bắn hỏng.

Nói đến đồ đạc của ông tớ mà không nói đến sách thì đúng là có mắt như mù, có tay như liệt. Ông tớ cũng là người hay đọc sách, và biết đọc sách. Ông tớ có một bộ 2 tập của cuốn “Thép đã tôi thế đấy” (giờ đã được chuyển nhượng sang cho tớ rồi):

Photobucket

Photobucket

Có ai để ý cái dòng đề năm xuất bản kia không ? Quyển sách này còn có trước cả khi mẹ tớ ra đời. Nó hơn mẹ tớ tận 5 tuổi, nghĩa là khi Thép đã tôi thế đấy đi mẫu giáo và chuẩn bị vào lớp 1 thì mẹ tớ mới sinh ra. Thôi đừng so sánh tuổi nó với tuổi tớ :(

Nói về đồ độc của ông thì vẫn còn nhiều. Cũng còn nhiều thứ li kì hấp dẫn hơn thế này nữa. Cũng có cả những đồ chẳng phải có một không hai, những đồ vật bình thường mà người khác cũng có thể có được. Nhưng đối với tớ, đấy vẫn là đồ độc, ít nhất thì cũng vì nó là của ông ngoại tớ.