Hành lộ nan – Cần quạt nan

Cháu vô cùng kính cẩn xin phép cụ Lý Bạch cho cháu mượn một chút, cả bài thơ lẫn tên cụ dùng vào mục đích tốt đẹp. Dù cụ với cháu vẫn uống rượu thường xuyên, song cháu tiếp thu ý kiến đóng góp, vẫn xin phép cụ một câu cho phải phép, phỏng cụ ?


*

*              *

Đề bài: Hãy phân tích bài thơ “Hành lộ nan” (Đường đi khó) của Lý Bạch.

*

*              *

Bài làm

Trong số tất cả các giai đoạn, trường đoạn, phân đoạn của thơ Trung Quốc, em thích nhất là thời Đường. Trong tất cả các nhà thơ Đường, em thích nhất là nhà thơ Lý Bạch. Mà trong tất cả các bài thơ của cụ Lý Bạch,  thật tình cờ và thật bất ngờ, bỗng dưng trong sách giáo khoa của em lại có bài Hành lộ nan.

Hành lộ nan là một bài thơ đầy tính hiện thực mà huyền ảo , thậm chí có thể xếp nó vào dòng hiện thực phê phán xã hội chủ nghĩa hoặc hiện thực huyền ảo Mỹ Latin. Cả bài thơ với nhiều hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ, dẫn dụ chỉ để nhằm nói lên thực trạng đen tối theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng của xã hội thời ấy: thiếu điện.

Đúng ra, tên gốc của bài thơ là “Cần quạt nan”, có điều do lỗi typo nên bị biến dạng thành “Hành lộ nan”, lâu dần thành quen thuộc với độc giả khắp mọi miền, tác giả chán chả buồn đổi lại nữa. Qua đây ta cũng thấy được thực tế phũ phàng về sự tắc trách của nhân viên Nhà xuất bản Hội nhà văn.

Em xin đi vào phân tích sâu bài thơ luôn.

“Cốc vàng, rượu trong, vạn một đấu,

Mâm ngọc, thức quý, giá mười ngàn.”

Hai câu thơ đầu tiên thể hiện hoàn cảnh sống của cụ Lý Bạch. Đó là một cuộc sống vương giả, phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của người dân lao động. Cả đồ ăn thức uống, lẫn dụng cụ ăn uống đều mua với giá từ hàng ngàn đến hàng chục ngàn. Có lẽ ở đây đơn vị giao dịch phải tính bằng Đô hoặc Euro, chứ vài ngàn Việt Nam Đồng thì rẻ quá mà vô lý quá.

Nhưng, bao giờ sau chữ “nhưng” cũng là một bước ngoặt lớn, sự gián đoạn tư duy, bởi sống giàu sang no say như thế, cụ Lý Bạch vẫn phải chịu cảnh đau khổ. Ai bảo người giàu không khóc. Giờ thì than nóng để làm gì, quạt cây để làm gì, E Con-đi-sừn-nờ để làm gì:

“Dừng chén, ném đũa, nuốt không được,

Rút kiếm nhìn quanh lòng mênh mang.”

Dường như giữa bữa ăn, đột ngột nhà cụ Lý Bạch bị mất điện. Không hiểu điện quá tải hay cắt điện luân phiên, nhưng nói chung là tự dưng tắt. Em đồ rằng cụ Lý Thái Bạch cởi trần ngồi viết cái bài Hành Lộ Nan này trong một buổi trưa  đang chuyển về chiều, mùa hạ nắng vàng rực rỡ. Nóng quá, nên dù đồ ăn thức uống ngon và đắt đến mấy, cụ cũng nuốt không trôi, rượu uống vào lại càng bốc hỏa. Mà cũng vì nóng quá, nên cụ phải tuốt kiếm ra để… chém gió cho thoáng. Hai câu thơ sau chín là thực tế phũ phàng và ước vọng của cụ Bạch:

“Muốn vượt Hoàng Hà sông băng đóng,

Toan lên Thái Hàng núi tuyết phơi.

Lúc rỗi buông câu bờ khe biếc,

Bỗng mơ thuyền lướt cạnh mặt trời.”

Không chịu được cơn nóng hầm hập đo được 40 độ trong lều khí tượng (và nhiệt độ ngoài trời thực tế còn cao hơn 2-3 độ),  tác giả chỉ nghĩ đến những nơi từ mát mẻ đến mát lạnh, mát rượi. Nào là “sông băng đóng”, nào là “núi tuyết phơi”, nào là ra hồ Tây câu cá… Dù vậy, trong giấc mơ đi về nơi xa lắm, Lý Bạch vẫn phải đối mặt với thực tại đau lòng: ánh mặt trời chiếu vào tận mặt, lại không có quạt. Nóng như một nỗi ám ảnh !

“Đưòng đi khó! Đường đi khó!

Nay ở đâu? Đường bao ngả?”

Đến đây, thực tế bỗng vỡ òa. Trốn đường nào cho hết được cái nóng, khi nơi nơi đều cắt điện luân phiên ? Ngay cả giải pháp trốn ra quán cafe wifi để lên Facebook chém gió cũng đầy bế tắc, bởi “đường bao ngả” mà đường nào cũng nắng, kiếm đâu ra con đường rợp bóng cây mà đi, nhất là khi VNPT cũng mới chặn cả Facebook. Nếu câu thơ trên như một tiếng thét phẫn uất, thì câu thơ dưới lại là một câu hỏi nao lòng mang tầm thế kỷ, thật không khác nào câu hỏi “Ai cho tao lương thiện ?” của Chí Phèo.

Nhìn lên câu thơ thứ 4 của bài thơ, chúng ta thấy Lý Bạch đã rút kiếm chém gió, mà tới 2 câu thơ cuối cùng, gió mới nổi, nổi mạnh:

“Cưỡi gió, phá sóng hẳn có ngày,

Treo thẳng buồm mây vượt biển cả!”

Theo sử sách ghi lại, từ 10 tuổi, Lý Bạch đã được bố mẹ chiều chuộng thuê hẳn gia sư về dạy kiếm pháp. Chẳng mấy chốc, ông đã nắm được những yếu quyết chém gió tinh diệu, nổi tiếng về tài múa kiếm chả kém tài làm thơ là mấy. Chính vì vậy,  ông chỉ rút kiếm và nhìn bốn phía thôi mà gió đã nổi lên ầm ầm, thổi đi phần nào cái nóng nực của mùa hè chiều thẳng đứng. Tuy thể hiện hiện thực phũ phàng cắt điện luân phiên nhưng 2 câu thơ cuối của tác giả lại đầy hào khí, hướng tới tương lai, mở ra một lối thoát gió thổi phấp phới. Lời thơ hết mà ý chưa tận, lòng vẫn mênh mang đầy niềm tin và hi vọng. Đó chính là điều khiến Lý Bạch trở thành nhà thơ Hiện thực phê phán xã hội chủ nghĩa hẳn hoi chứ không phải Hiện thực phê phán thường thường.

Có thể nói, đây là một trong những bài thơ xuất sắc nhất của Lý Bạch nói riêng và bầu trời thơ thẩn Trung Hoa nói chung về đề tài mất điện. Đề tài cắt điện luân phiên cũng xuyên suốt đời thơ Lý Bạch, như trở thành một ẩn ức, một nỗi ám ảnh, một số phận. Sinh nghề tử nghiệp, sau này, khi đang ở bên bờ sông  Thái Trạch, huyện Đang Đồ, trong một đêm rằm mất điện, cắt nước, Lý Bạch say xỉn, nóng quá lại không có quạt, liền nhảy xuống tắm tí cho mát mà chết đuối. Chỗ ấy người đời sau xây một cái đài, gọi là Tróc điện đài (Đài bắt điện) nhằm ghi lại khát vọng và cái chết của một nhà thơ vĩ đại.

*

*             *