Dừng xe

 

2 (2)

Chiều đi làm gặp một đám tang đang đi gần tới ngã tư. Sát giờ làm rồi nên mình tăng ga lượn qua đầu dòng người, tới bên kia ngã tư. Chiếc xe tang và dòng người vẫn đi chậm rãi.

Ông ngoại kể, người Hà Nội xưa, đang đi trên đường mà gặp đám tang đều đứng lại, bỏ mũ, cúi đầu, đợi đoàn người qua hết rồi mới đi tiếp.

Thời đại bây giờ mà dừng lại, dù chỉ một phút, thì khó và không thực tế lắm. Thế nhưng vẫn thấy tiếc tiếc cái hành động dừng chân, ngả mũ, cúi đầu xưa.

Bụi vàng

Mấy hôm nay nảy ra ý định đem đống ảnh Hà Nội xưa sang cho ông ngoại xem. Có một số ảnh tớ cũng không thể xác định được nó chụp chỗ nào, trong khi chú thích trên ảnh lại mập mờ và đôi khi sai toét. Hơn nữa lúc ông ngoại  run run cầm kính lúp soi lên màn hình laptop cũng là lúc dễ dàng gợi chuyện để ông kể lại “ngày xưa”. Trong khi ông kể chỗ này ngày bé ông hay làm gì, rồi cụ ngoại hồi xưa cho tiền ông mua gì, rồi phố này hồi đó thế này thế khác, tớ len lén bật điện thoại ghi âm lại.

Ông ngoại có lẽ là một trong những người cuối cùng của lớp người Hà Nội thực sự, khi cư dân Hà Nội còn chưa bị pha tạp quá nhiều, cũng như lối sống Hà Nội vẫn còn nguyên vẹn. Ông cũng là nhân chứng của một thời đại đầy đổi thay, từ những trước Cách mạng tháng Tám đến Toàn quốc kháng chiến, Kháng chiến 9 năm và Kháng chiến chống Mỹ… Lịch sử thì quá dài, có những câu chuyện như chả bao giờ kết thúc. Ông ngoại có tài vắt vẻo từ chuyện nọ sang chuyện kia mà nghe một lúc sau mới nhận ra. Nên trước hết tớ khai thác ở ông tất tật những gì có thể liên quan đến tuổi thơ ông và Hà Nội khi ấy đã.

Hôm trước, giở đến ảnh Dinh thống sứ Bắc Kỳ, ông kể hồi xưa ông đã được vào đây rồi. Chả là hồi ông học lớp Élémentaire (tương đương với lớp 3 bây giờ), ông từng được thưởng vì là học sinh xuất sắc. Thế là người Pháp cho đoàn học sinh được thưởng vào dinh Thống sứ, đi thăm hết các phòng, cho đi xem rối nước rồi được đích thân Thống sứ Tholance thưởng cho một cuốn sách là Miếng da lừa của Balzac do cụ Nguyễn Văn Vĩnh dịch. Hồi ấy lên nhận thưởng mà ông không có quần áo tây, chỉ có bộ áo the. May mà lúc sắp đi thì được anh bạn ở phố Hàng Sắt cho mượn cái áo pa-đờ-suy dài đến tận đầu gối để khoác ngoài. Ông bảo lúc lên nhận thưởng, có hiệu ảnh ở chỗ đồn công an trên vườn hoa Hàng Đậu bây giờ nó vào nó chụp ảnh những người được thưởng, có chụp mình đàng hoàng, còn trông thấy ảnh mình ở đấy. Tiếc là hồi đó không mua, mà cũng chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện mua những cái ảnh đấy bao giờ cả.

Nghe ông kể chuyện một lúc mới biết hóa ra cái trò vẽ bậy viết bậy lên tường di tích không phải bây giờ mới có. Ông kể hồi xưa buổi chiều ông với các bạn hay vào trong Văn Miếu ngồi học bài vì trong đấy yên tĩnh vắng vẻ lắm. Thế mà thấy trên các tường bọn nó ghi những câu thơ câu thiếc bậy bạ, giờ ông vẫn còn nhớ những cái đó, rất bậy, nhưng mà không nói ra được. Văn Miếu hồi đó là nơi để bọn gái gọi với khách vào hành lạc. Chả thể tin nổi là người ta lại vào tận Văn Miếu để làm cái chuyện ấy :|

Chuyện còn dài và tớ vẫn gỡ băng dần dần. Những gì ông ngoại kể có cái tớ đã có cái tớ chưa biết, nhưng vẫn cứ lưu giữ lại. Các nhà sử học có thể ghi chép, tìm hiểu trong chính sử, ngoại sử, có thể nói về Hà Nội với tư cách những chuyên gia, nhưng số phận những con người bình thường gắn liền vòng quay lịch sử thì lại không sử sách nào ghi chép hết được. Những người Hà Nội thuần chất cuối cùng vẫn còn giữ lại nét tinh hoa Hà Nội ấy, cũng giống như những hạt bụi vàng, để riêng lẻ thì óng ánh, nhưng tập hợp tất cả những ký ức xưa cũ lại, dần dà sẽ có cả một kho vàng.

Dạo này vàng đang tăng giá nữa chứ lị.