Dừng xe

 

2 (2)

Chiều đi làm gặp một đám tang đang đi gần tới ngã tư. Sát giờ làm rồi nên mình tăng ga lượn qua đầu dòng người, tới bên kia ngã tư. Chiếc xe tang và dòng người vẫn đi chậm rãi.

Ông ngoại kể, người Hà Nội xưa, đang đi trên đường mà gặp đám tang đều đứng lại, bỏ mũ, cúi đầu, đợi đoàn người qua hết rồi mới đi tiếp.

Thời đại bây giờ mà dừng lại, dù chỉ một phút, thì khó và không thực tế lắm. Thế nhưng vẫn thấy tiếc tiếc cái hành động dừng chân, ngả mũ, cúi đầu xưa.

Chiến đấu với cơ động

 

Tối qua em vừa chiến nhau với mấy thằng cơ động dưới chân cầu Long Biên các bác ạ.

Chả là em lên cầu Long Biên hóng mát (lạnh) về, đến chỗ ngoặt ở cửa ga Long Biên thì bị mấy thằng cơ động vẫy lại. Em liếc lại gương lược đèn đóm vẫn đầy đủ, MuBaHi đã cài quai, biết chắc mình chả có gì sai nên không việc gì phải ngán.

Một thằng cơ động non choẹt (sau đây gọi là CĐ1) ra chào theo điều lệ nhưng cóc thèm thông báo em phạm lỗi gì mà đòi xem giấy tờ luôn. Em không thèm chấp, dừng xe tắt máy đàng hoàng rồi mới hỏi:

Em: anh cho biết tôi phạm lỗi gì ?
CĐ1: anh chuyển làn đường không có đèn tín hiệu. Đề nghị anh cho xem giấy tờ.
Em: anh nhầm, đây là đường một chiều, không có giao cắt, vì thế tôi vẫn đang đi trên phần đường của mình, hoàn toàn không phải xi nhan.
CĐ1: đề nghị anh cho xem giấy tờ
  Em: anh đề nghị xem giấy tờ vì tôi vi phạm phải không ?
CĐ1: đúng rồi
Em: vậy thì tôi không có nghĩa vụ phải cho anh xem, vì tôi không hề có lỗi. Nếu anh kiểm tra hành chính đột xuất chứ không vì lỗi, thích thì tôi cho xem.
CĐ1: anh phạm lỗi chuyển làn đường không có đèn tín hiệu bla bla… Đoạn kia đi thẳng là cửa ga kìa.
Em: đúng, đấy là cửa ga, nhưng đấy không phải là đường, nên không hề có giao cắt. Làn đường này chỉ có đi thẳng xuống dưới này thôi, và vì thế nó không phải là rẽ, cũng chả chuyển làn gì cả. Thế bây giờ anh thích kiểm tra theo kiểu gì ?
CĐ1: chúng tôi kiểm tra theo quyết định của CA Thành phố trong cao điểm bảo vệ…
Em: anh có văn bản quyết định không ? các anh có phải đội 141 không mà đòi kiểm tra ? xin phép anh tôi bật ghi âm (quên xừ mất không bật từ đầu)
CĐ1: anh không được phép bật ghi âm
Em: anh vui lòng chỉ ra điều nào quy định tôi không được bật ghi âm ? Nếu không có điều nào cấm, tôi được phép ghi âm thoải mái.

Nghe xong mặt cu cậu đơ ra, trông rất chim cú nhưng chả nói được gì, vì làm quái gì có điều nào cấm ghi âm trong trường hợp này. Một cha già hơn tí, có vẻ là đội trưởng (sau đây gọi là CĐ2) ra nháy CĐ1 đi chỗ khác, chào em theo điều lệ rồi làm việc tiếp, giọng có vẻ mềm mỏng. Em hỏi luôn có được ghi âm không, nếu không cấm nghĩa là được phép chứ gì, rồi ghi âm tiếp bình thường.

    CĐ2: anh cho kiểm tra giấy tờ
Em: bây giờ các anh thích kiểm tra theo kiểu gì, kiểm tra theo lỗi vi phạm để xử lý hay kiểm tra hành chính ?
CĐ2: chúng tôi chỉ kiểm tra hành chính thông thường thôi.

Lằng nhằng thêm mấy câu rồi em cũng đưa giấy tờ kiểm tra cho vui. Gì chứ bằng lái với giấy tờ xe em đầy đủ, thậm chí bảo hiểm còn mua luôn tận 2 năm – đến tận năm sau nữa. CĐ2 rất chim cú nhưng chả có gì để bắt, nên đòi kiểm tra cả cốp và ba lô. OK, cho kiểm tra luôn, dù lúc đấy chưa đến 22h. Bật đèn pin soi chán mà cũng chả thấy gì, nên CĐ2 đành nói lời cảm ơn trong cay đắng và quay sang vặt lông các đôi khác cũng đang đi từ trên cầu xuống. Em lên xe máy ra về, không thèm chào hỏi lần cuối cho nó lịch sự…

Happy ending.

Hà Nội có gì đẹp ?

Có lần, một người bạn từ xa đến hỏi tôi Hà Nội có những nơi nào đẹp để ghé thăm. Tôi nghĩ một lúc rồi bảo, Hà Nội chỗ nào cũng đẹp nhưng không có nơi nào tự thân nó đủ đẹp để có thể níu giữ người ta lại. Hà Nội đẹp bằng từng khoảnh khắc.

Hà Nội không giống như Huế. Nửa tháng trước, tôi đi nghỉ 5 ngày ở Huế. Nhiều người nói Huế buồn. Tôi không thấy thế, một phần là vì có lý do khác thà chết không kể, một phần là vì thực sự chưa bao giờ thấy Huế buồn, chắc là tại chưa bao giờ được nếm mùi mưa Huế dằng dặc lê thê mà Phùng Quán đã viết trong Trăng Hoàng cung:

Làm gì có chừng mực thơ!

Làm gì có chừng mực mưa!

Làm gì có chừng mực yêu!

Làm gì có chừng mực thiên tài!

Làm gì có chừng mực khổ đau!

    Lại có người bảo, Huế chả có gì chơi, chả có nơi nào để đi. Tôi bảo, cho tôi một tuần, một tháng ở Huế, tôi cũng có chỗ để đi, có việc để làm. Mà tôi đã đến Huế tới 4 lần, ở Huế lâu nhất nửa tháng, nhanh nhất một đêm, chứ không phải mới ghé thăm Huế lần đầu. Kể về Huế, tôi có thể nêu từng địa điểm, nhưng Hà Nội thì không.

Tất nhiên, nơi quái nào đẹp cũng có những khoảnh khắc đẹp nhất của nó, chứ không thì nhạt nhẽo lắm, nhưng đẹp theo từng khoảnh khắc, chắc phải kể tên Hà Nội. Hay thành phố lớn nào cũng thế ? Hay tôi đã quá quen thuộc với Hà Nội, đến mức những nơi người ta thấy đẹp, thì tôi lại thấy bình thường ?

Không đúng. Hà Nội đẹp theo khoảnh khắc nghĩa là lúc nào nó cũng đẹp, nhưng mỗi lúc đẹp một kiểu khác nhau. Nếu anh mới đến Hà Nội, anh đến Hồ Tây, đứng một lúc, hoặc thậm chí ngồi cả một buổi chiều, rồi về, bảo anh đã biết Hồ Tây là như thế nào rồi, thì nhầm to. Hồ Tây ban sớm đẹp một kiểu, hoàng hôn đẹp một kiểu, buổi tối đẹp kiểu khác, và nửa đêm, khi chẳng còn mấy ai trên đường, trừ 2 đối tượng: cướp và cơ động, thì nó vẫn đẹp. Hồ Tây lại đẹp cả ở vòng quanh hồ ghé nhìn vào, từ ngang nhìn sang, từ trên nhìn xuống. Riêng có từ dưới nhìn lên là tôi chưa thử, vì như thế thì khác quái gì chết đuối béng rồi.

Lại nữa, Hà Nội có những nơi đẹp mà chả có gì đặc biệt, không phải danh lam thắng cảnh, không phải di tích lịch sử, hoặc địa điểm du lịch. Chỉ là tự nhiên thấy đường đó đẹp, như Kim Mã khi bằng lăng nở, hoặc Phan Đình Phùng lá rụng đầy vỉa hè sau cơn mưa. Những khoảnh khắc đẹp kiểu ấy, không phải cứ đến là có thể bắt gặp được.

Nói chung, Hà Nội không thích hợp để cảm nhận một cách vội vã, ào ào và xôi thịt. Ví dụ như chuyện ngồi trà đá ngắm phố phường.

Trong Sài Gòn tất nhiên cũng có trà đá, thậm chí còn nhiều hơn Hà Nội nữa. Trà đá trong đó miễn phí, không thấy tính tiền vì nó là món đi kèm ở các quán ăn hoặc của người ta dựng ngay bình trà trên hè, ai khát thì uống. Thế nên tôi chẳng gặp hàng trà đá nào. Hà Nội thì khác. Nhiều khi phóng xe vèo vèo trên đường chỉ để dừng lại ngồi trà đá trong lúc chờ đợi, trên một vỉa hè, dưới những tán cây, và ngắm xe qua lại. Mà đúng thế, bên cạnh mục đích giải khát, hay làm thứ nước để nhấp giọng trong những câu chuyện dây cà ra dây muống, trà đá gắn liền với sự chờ đợi, nhất là trà đá một mình. Nhiều lúc ngồi trà đá, thấy đời đẹp quá, không buồn nổi.

Cho nên thú thật, nói cụ thể rằng Hà Nội đẹp ở đâu, quả thật là khó quá. Nó cũng giống như bạn có thể thích ai đó từ cái nhìn đầu tiên, hoặc cái nhìn đầu tiên thứ hai, hoặc cái nhìn đầu tiên thứ ba, hoặc cái nhìn đầu tiên thứ ba mươi…, nhưng để yêu, cần rất nhiều khoảnh khắc và trải nghiệm chứ không phải chỉ nhìn, cũng giống như phù sa phải bồi đắp từng ngày, từng tháng, từng năm. Để rồi nếu ai đó hỏi tại sao lại yêu, thì bạn sẽ há hốc miệng ra, cằm rơi đến rốn, và vò đầu bứt tai không nói rõ được tại sao mình lại yêu người ta như vậy nữa.

Vậy là tôi yêu Hà Nội. Và yêu em.

Trà đá vỉa hè

Dường như trên khu phố cổ, các bà già đều biết hút thuốc.

Trong khi tôi ngồi nhấm nháp chén trà nóng nghi ngút khói, bà già tóc bạc trắng, chừng 74 tuổi chênh chếch phía bên trái tôi cầm điếu thuốc, nhúng đầu lọc vào chén trà, rồi thổi nước ra phì phì rồi vẩy tay châm lửa. Cô chủ quán vẫn thao thao bất tuyệt về một chủ đề nào đó. Bà già lặng lẽ thở khói, trầm tư nhìn về phía bên kia đường như thể nhìn về nơi xa xăm và xa lạ nào đó. Phía bên ấy chỉ có một hàng bún bò, một quán rượu dành cho dân Tây balô, và một con ngõ chật hẹp, tối tăm, sâu hun hút.

Rồi bà già ngồi cạnh, chừng 66 tuổi nhưng nhăn nheo hơn, tóc xoắn lò xo, cũng với tay nhặt điếu Vina, đưa lên miệng châm  lửa, bỏ qua công đoạn nhúng nước đầu lọc, vừa rít thuốc, vừa hất hàm quay sang cô chủ quán: “Mẹ, hôm qua đánh lệch có tí, phí đéo tả. Mày ghi vào đi, 22.”

Cứ thế, hai bà già ngồi bên nhau, nhả khói phì phà trong cơn lạnh cuối cùng của Hà Nội tháng Ba, trầm tư nhìn về hai hướng, và chỉ có Chúa mới biết họ có đang nghĩ về những điều khác nhau hay không.

Thế rồi cũng hết ngàn năm

 

Nguồn ảnh: Bee.net.vn

 

Mười ngày Đại lễ ngàn năm Thăng Long – Hà Nội cuối cùng cũng kết thúc, mặc kệ những lời khen, chê, thanh minh, bao biện, bên cạnh những người hoặc trục lợi vật chất, hoặc tinh thần từ nó, bên cạnh những người khác, lợi dụng nó để kiếm chác những món lời khác còn khó nói ra hơn.

Đại lễ kết thúc bằng ba loạt hình ảnh trên báo chí: một là lễ diễu binh, diễu hành thuộc loại lớn nhất trong lịch sử nước nhà tại quảng trường Ba Đình, hai là tối biểu diễn nghệ thuật và bắn pháo hoa tại sân Mỹ Đình, mà giá vé chợ đen cũng vào hàng khủng nhất trong lịch sử Hà Nội, và ba là hình ảnh những người dân ngoại tỉnh ngủ nốt đêm cuối cùng dưới khách sạn ngàn sao thủ đô, bên cạnh những rác rưởi túi ni lông cờ hoa chăn chiếu, đợi trời sáng bắt xe về nhà, trở lại với công việc bình thường.

Chưa bao giờ người ta lại háo hức và mong đợi một dịp nào đến như thế, như sự chờ mong ngày Tết của lũ trẻ con, bởi dịp đó chúng được sống một quãng sống khác, không bài tập, không đến trường, chỉ vui chơi và nhận tiền mừng tuổi. Tất nhiên Tết cũng có người thích, có người không, vì cái không khí của nó và vì cảm nhận riêng của người đó, chả sao. Đại lễ cũng thế.

Thú thật, khi nhìn hình ảnh những người ngoại tỉnh phải trải chiếu ngủ vạ vật khắp nơi, tôi thấy có chút chạnh lòng. Một đại lễ lớn như thế, hoành tráng như thế, nhiều cái “nhất” đến như thế, nhưng những người tới dự lại chỉ có thể màn trời chiếu đất mà chung vui. Ừ thì vĩ mô đất nước còn nghèo. Ừ thì khoảng cách giàu nghèo thế này thế nọ. Ừ thì vi mô nhà nghỉ tăng giá, khách sạn chật phòng. Ừ thì sức chứa của nội thành Hà Nội cũng có hạn. Nhưng sao lại phải bô nhếch thế ? Sao phải khổ thế ?

Tôi biết, những người nằm trên bãi cỏ, vỉa hè đó không hề thấy khổ. Họ vui sướng hòa nhập vào không khí Đại lễ một cách vô tư, hồn nhiên. Họ không hề tính toán xem mình đã được gì, mất gì. Nhưng vẫn là câu hỏi ở trên kia, tại sao một Đại lễ to thế, long trọng và thiêng liêng thế mà người dân lại phải ngủ ngoài đường ?

Tôi không trách họ đã dẫm lên, nằm lên, đè lên, làm một số việc khác lên những bãi cỏ xanh của thành phố, để rồi sau Đại lễ, những bãi cỏ biến thành bãi đất trụi thụi lụi chẳng hề nên thơ. Tôi cũng không trách họ nằm ngồi khắp nơi, làm cho những bức ảnh Đại lễ trên các trang báo bớt phần tươi đẹp. Nói gì thì nói, cách sống và tư duy nông dân cũ vẫn cần một khoảng thời gian dài mới có thể thay đổi, thậm chí có khi phải đợi đến cả ngàn năm. Và những gì đăng trên báo chí, nó là sự thật thôi có gì đâu mà phải che giấu.

Ừ thì người ta yêu Hà Nội. Ừ thì người ta chung vui cùng Hà Nội. Ừ thì dân ta vốn thích hội hè đình đám, chỉ trống đình giục thùng thùng mấy tiếng là bà con tụ đã lại rõ nhanh nữa là cái Ngàn năm to tát. Ừ thì người ta có thể chịu hơi khổ một tí, chủ yếu là được sung sướng về tinh thần. Ừ thì thân ai nấy lo. Ừ thì hồn ai nấy giữ.

Nhưng ngoài tất cả những điều ấy, dường như vẫn còn có gì đó bị xô lệch ở đây.

Bụi vàng

Mấy hôm nay nảy ra ý định đem đống ảnh Hà Nội xưa sang cho ông ngoại xem. Có một số ảnh tớ cũng không thể xác định được nó chụp chỗ nào, trong khi chú thích trên ảnh lại mập mờ và đôi khi sai toét. Hơn nữa lúc ông ngoại  run run cầm kính lúp soi lên màn hình laptop cũng là lúc dễ dàng gợi chuyện để ông kể lại “ngày xưa”. Trong khi ông kể chỗ này ngày bé ông hay làm gì, rồi cụ ngoại hồi xưa cho tiền ông mua gì, rồi phố này hồi đó thế này thế khác, tớ len lén bật điện thoại ghi âm lại.

Ông ngoại có lẽ là một trong những người cuối cùng của lớp người Hà Nội thực sự, khi cư dân Hà Nội còn chưa bị pha tạp quá nhiều, cũng như lối sống Hà Nội vẫn còn nguyên vẹn. Ông cũng là nhân chứng của một thời đại đầy đổi thay, từ những trước Cách mạng tháng Tám đến Toàn quốc kháng chiến, Kháng chiến 9 năm và Kháng chiến chống Mỹ… Lịch sử thì quá dài, có những câu chuyện như chả bao giờ kết thúc. Ông ngoại có tài vắt vẻo từ chuyện nọ sang chuyện kia mà nghe một lúc sau mới nhận ra. Nên trước hết tớ khai thác ở ông tất tật những gì có thể liên quan đến tuổi thơ ông và Hà Nội khi ấy đã.

Hôm trước, giở đến ảnh Dinh thống sứ Bắc Kỳ, ông kể hồi xưa ông đã được vào đây rồi. Chả là hồi ông học lớp Élémentaire (tương đương với lớp 3 bây giờ), ông từng được thưởng vì là học sinh xuất sắc. Thế là người Pháp cho đoàn học sinh được thưởng vào dinh Thống sứ, đi thăm hết các phòng, cho đi xem rối nước rồi được đích thân Thống sứ Tholance thưởng cho một cuốn sách là Miếng da lừa của Balzac do cụ Nguyễn Văn Vĩnh dịch. Hồi ấy lên nhận thưởng mà ông không có quần áo tây, chỉ có bộ áo the. May mà lúc sắp đi thì được anh bạn ở phố Hàng Sắt cho mượn cái áo pa-đờ-suy dài đến tận đầu gối để khoác ngoài. Ông bảo lúc lên nhận thưởng, có hiệu ảnh ở chỗ đồn công an trên vườn hoa Hàng Đậu bây giờ nó vào nó chụp ảnh những người được thưởng, có chụp mình đàng hoàng, còn trông thấy ảnh mình ở đấy. Tiếc là hồi đó không mua, mà cũng chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện mua những cái ảnh đấy bao giờ cả.

Nghe ông kể chuyện một lúc mới biết hóa ra cái trò vẽ bậy viết bậy lên tường di tích không phải bây giờ mới có. Ông kể hồi xưa buổi chiều ông với các bạn hay vào trong Văn Miếu ngồi học bài vì trong đấy yên tĩnh vắng vẻ lắm. Thế mà thấy trên các tường bọn nó ghi những câu thơ câu thiếc bậy bạ, giờ ông vẫn còn nhớ những cái đó, rất bậy, nhưng mà không nói ra được. Văn Miếu hồi đó là nơi để bọn gái gọi với khách vào hành lạc. Chả thể tin nổi là người ta lại vào tận Văn Miếu để làm cái chuyện ấy :|

Chuyện còn dài và tớ vẫn gỡ băng dần dần. Những gì ông ngoại kể có cái tớ đã có cái tớ chưa biết, nhưng vẫn cứ lưu giữ lại. Các nhà sử học có thể ghi chép, tìm hiểu trong chính sử, ngoại sử, có thể nói về Hà Nội với tư cách những chuyên gia, nhưng số phận những con người bình thường gắn liền vòng quay lịch sử thì lại không sử sách nào ghi chép hết được. Những người Hà Nội thuần chất cuối cùng vẫn còn giữ lại nét tinh hoa Hà Nội ấy, cũng giống như những hạt bụi vàng, để riêng lẻ thì óng ánh, nhưng tập hợp tất cả những ký ức xưa cũ lại, dần dà sẽ có cả một kho vàng.

Dạo này vàng đang tăng giá nữa chứ lị.