Chuyện chả có gì

Cây si già ôm trọn ngôi tháp cổ trong chùa

Ngôi chùa làng đã gần như bị bỏ hoang từ khi sư thầy mất nhiều năm trước, cỏ lau và cây dại mọc um tùm. Nhà bia sập xệ sắp sập đến nơi, thường ngày vẫn khóa kín cổng vì sợ ai đó bước vào, có lỡ thở mạnh một hơi là nó sẽ sụp xuống mất. Quả chuông đồng, theo như bài minh trên chuông thì được đúc từ thời Minh Mạng, tiếng vẫn trong và vang, nhưng các cụ phải nói thác là chuông câm, rồi đưa vào treo trong một nơi chả biết nên gọi là lầu chuông hay nhà chuông, khóa béng cửa lại vì sợ bị trộm mất.

Chùa gần như bỏ hoang, vì người trong làng hầu như chẳng ai bước chân lên chùa nữa. Chỉ còn duy nhất một bà vãi già, nói năng ngọng líu ngọng lô và cười nhe răng nhe cả lợi, chăm chỉ vào quét tước, nhang đèn.

Chúng tôi trải chiếu ngồi trên sân trước gian tam bảo, uống thứ nước đăng đắng chan chát, có mùi như hơi thở của những cụ bà hay ăn trầu, được pha bằng lá tu hú và lá mỏ sẻ mà thú thật ngay cả nghe tên cũng mới là lần đầu. Bà cụ bảo, chả biết sáng nay giời xui đất khiến thế nào mà tự dưng bà nghĩ đến hãm ấm trà,  chứ nào ai biết trước được các bác về đâu. Bà vãi già ngồi kể chuyện, cứ giục chúng tôi uống cái món trà tu hú mỏ sẻ ấy, còn bổ sung thêm “cái này uống tốt lắm, bà đẻ uống vào mau cơm cứ gọi là”, làm ba thằng đực rựa ngồi nhìn nhau mà không dám cười to.

Bà cụ kể, dân làng chẳng ai coi chùa vào đâu. Ruộng chùa cũng có nhà ra cấy trộm, được bao nhiêu thóc ăn dấm ăn dúi ở nhà cả, tiệt không thấy cúng trả chùa. Bọn trẻ con thì vào chùa bắn chim với câu cá, cụ cứ thả lứa cá nào là chúng nó lại vác cần vào ngồi thiền. Bọn trẻ đặt bẫy chim lủng liểng khắp nơi, cụ quản không được. Nói chả ai nghe.

Cụ kể ngày trộm vào chùa bê mất pho tượng đồng 60 cân, bà cụ lặng đi, rơm rớm nước mắt, rồi xắn quần chạy lên ủy ban xã báo cáo. Câu đầu tiên người ta hỏi bà là “Cụ giấu ở đâu thì đem ra đi”. Bà quát “Nếu lấy thì tao đã lấy từ bao giờ rồi, việc gì phải đợi đến bây giờ. Mà tao có chết đói cũng không lấy của chùa”. Công an xã xuống xác minh, hỏi han, đo đạc, rồi về. Chả bao giờ bắt được thằng trộm.

Cụ kể, đống gạch của chùa để xây tường bao, có nhà gần đấy đem xe cải tiến đến xúc gạch lẳng lặng mang về. Bà cụ chạy ra ngăn lại. Họ chửi mắng té tát, còn dọa đánh. Bà cụ ngăn không nổi, chạy về chùa, quỳ xuống  lạy trước ban thờ, rằng trời phật chứng giám con đã hết lòng rồi, đứa nào ăn cắp của chùa thì phật trừng phạt nhà nó, con cũng chẳng biết phải làm sao nữa. Cụ bảo, cái nhà ấy cả nhà nó bất nhân, cả bố cả con, thằng con là cái thằng hay vác súng hơi vào chùa bắn chim ấy. Mới rồi ông bố ốm suýt chết, thằng con cả cũng tai nạn suýt chết, thằng con thứ học hành chểnh mảng chả đâu vào đâu, chắc chả làm nên trò chống gì.

Bà cụ cứ ngồi kể những chuyện lan man rằng hồi xưa tôi còn bé, bố mẹ mất sớm, tôi hay lên chùa ở với sư thầy, đến khi sư thầy mất thì tôi phải trông chùa. Kể chuyện ngôi chùa làng xưa cũng lớn lắm, kéo từ gốc cây bên này sang gốc cây bên kia kìa, rồi giặc Pháp đến phá mất. Tượng Phật đem đi gửi dưới chùa Thanh Vân mạn ngoài kia, giờ đòi họ không trả nữa…

Cụ ngồi kể toàn chuyện buồn, loạn ly, đổ vỡ, hoang lạnh,  thỉnh thoảng lại phá lên cười ha hả nhe cả hạm đội răng lợi vì gặp phải mấy kẻ nói năng bạt mạng tung tóe bốc giời là chúng tôi. Sân chùa vắng, tiếng chim hót vang giữa những tịch mịch Phật ngồi nhắm mắt, mở mắt, chắp tay bắt ấn…

Tôi chợt nhớ đến những ngôi chùa lớn ở khắp nơi trên đất nước này đến mùa vào hội, người ta đổ xô đến cúng bái xin xỏ xì xụp, thắp hương từng bó, đọc văn khấn theo bài. Cái ngôi chùa làng sắp đổ đầy cô đơn này, những người ở lại với nó trong lúc bĩ cực như bà vãi đang đưa bộ mặt rất chi hình sự, thì thào kể lại cho chúng tôi về quá khứ của chùa kia mới thật là ít ỏi làm sao.

Chuyện chả có gì, chỉ là kể lại vậy thôi.