Thư Hà Nội

hay Những bức thư của người đàn ông tôi muốn rủ đi uống bia

Mặc kệ mọi nỗ lực lục lọi các nhà sách bán đúng giá, các hiệu sách giảm giá 30-40% lẫn các hiệu sách cũ thấp nhỏ, đầy sách và rất thạo lối “chém treo ngành”, tôi vẫn không thể nào kiếm được một cuốn Thư Hà Nội của Jean Tardieu. Tất nhiên, kiếm ebook trên mạng thì dễ hơn nhiều.

Trong suốt những ngày đôi mắt bạn còn đủ sáng để đọc những cuốn sách chữ nhỏ li ti in trên giấy xấu nhưng được viết bởi một nhà văn tuyệt vời, bạn sẽ gặp hai loại sách hay. Loại sách thứ nhất là loại mà sau khi đọc xong, bạn sẽ không còn muốn viết bất kì điều gì nữa. Nó soi rọi tất cả những gì thuộc về bạn, nó khiến bạn ngạc nhiên cảm thấy những cảm xúc và ẩn ức trong tâm trí bạn – cái góc tối mà thậm chí bạn còn không biết đến sự tồn tại của nó. Loại sách thứ hai là những cuốn sách khiến bạn không thể kiềm chế việc nghĩ về nó, viết về nó, cũng như khi bạn phải lòng một cô gái và không thể nào ngăn mình không nghĩ về cô ấy. Thậm chí bạn còn nghĩ tới cô ấy trước cả khi bạn muốn nghĩ. Và khi đặt bút xuống viết một cái gì đó vu vơ, rất có thể bạn sẽ viết nhầm sang một chữ: “Nàng !”.

Thư Hà Nội của Jean Tardieu thuộc loại sách thứ hai ấy.

Jean Tardieu là con trai của Victor Tardieu – người sáng lập Trường CĐ Mỹ thuật Đông Dương. Bản thân ông cũng là một nhà thơ và một họa sỹ. Ông đến xứ Đông Dương với tư cách một người lính của nước mẹ Đại Pháp. Thư Hà Nội là những cảm nhận về một thành phố trong sông với đất và người, qua đôi mắt anh lính ấy. Nhưng ta không thấy Jean Tardieu với tư cách một người lính, cũng không với tư cách một đại diện của Mẫu quốc ở xứ thuộc địa. Ông viết về Hà Nội không phải như một người khách đến rồi đi, thấy sự gì lạ thì ghi chép, đặng còn có cái để kể với bạn bè trong lúc trà dư tửu hậu. Ông viết như thể ông là một phần của Hà Nội ấy, ông và Hà Nội phảng phất vào nhau không cách gì tách rời được. Tôi biết những gì tôi đọc là viết về Hà Nội, kể cả khi tên cuốn sách không phải là Thư Hà Nội đi chăng nữa. Không phải một thành phố cảng miền Nam Trung Hoa qua góc nhìn một viên công sứ nước Anh, hay một võ quan nước Ý, cũng không phải những dặm xanh Lào, Căm pu chia trong tâm tưởng một anh lính quèn vớ vẩn nào đó chỉ biết rượu và gái để tiêu sầu trên cái xứ nhiệt đới nóng ẩm gió mùa này. Hà Nội, Hà Nội.

Và tôi cũng biết chắc, dù Jean Tardieu ở Huế, ở Bắc Kinh, hay Tokyo, Băng cốc, ông cũng sẽ viết về chúng như thể ông là một phần của nơi đó, ông yêu quý và tôn trọng chúng không kém gì đối với đất mẹ của mình. Jean Tardieu là như thế. Văn của ông là như thế.

Trong những bức thư gửi hai người bạn, nhà văn lớn Roger Martin du Gard và Jacques Heurgon, giáo viên tương lai môn Văn minh La tin của đại học Sorbonne, Jean Tardieu đã viết:

Cuối cùng là điều kỳ diệu nhất trong mọi thứ: tiếng guốc gỗ gõ xuống gạch lát đường. Các đôi guốc này được quết một lớp sơn bóng, mầu đỏ, vàng hay xanh lục… khiến cho gót chân khi chạm tới đất vang lên như tiếng đàn phiến gỗ, và cái thành gỗ nhỏ mà nó tựa lên, trở thành mặt tạo âm khi mỗi bước đi bàn chân lại rời mặt tựa, bởi chỉ đầu mũi chân là được giữ bằng một cái quai da.

Tôi nghĩ rằng tiếng nhạc guốc này chắc là một kiểu làm đỏm cố tình của dân chúng. Chỉ cần năm hay sáu khách bộ hành mang guốc cùng đi trên một vỉa hè, là cả phố bắt đầu vang lên như hát.

Trong mỗi đôi guốc, tất nhiên từng chiếc lại có tiếng vang riêng: không có gì thú vị bằng nhìn thấy một thiếu nữ lao động người Việt xinh xắn, đoan trang, đi rất thẳng để giữ cho chiếc nón mênh mông của mình không bị chòng chành; bước đi đều đều và mềm mại, cô lần lượt gõ trên nền đất nốt rê thăng và nốt son giáng của mình…

Hay một đoạn khác viết về cảnh ven sông Hồng trong bức thư đề 10 giờ tối ngày 2 tháng Hai:

[…] Từ mũi đất nhỏ của tôi, tôi nhìn thấy dưới chân tôi những thuyền đánh cá, xa hơn, những ghe có mái chèo đi qua hoặc những thuyền buồm trở về bến. Phía bên kia, con sông cứ dâng lên, dâng lên dường như cao hơn cả chân trời. Cuối cùng, một nét mảnh mầu xám ở xa như chỉ ra một bến bờ thấp thoáng. Trong tất cả không gian ấy, không một sắc mầu rực rỡ, không hề có một mầu đỏ thực sự, mầu lục hoặc vàng gắt như người ta thấy ở Ấn Độ. Một hòa hợp sắc mầu tráng lệ: mầu xám – nâu. Đủ mọi thang của mầu xám và mầu hạt dẻ, ở đấy các sắc mầu chỉ kín đáo hòa lẫn, để khiến cho bùn đất cất lên một khúc ca đơn điệu u buồn, cự kỳ tinh vi và sâu kín. Dòng sông một mầu nâu trở – tím lại có những ánh bạc ngả mầu; những chuyển đổi khó tả khiến mọi thứ đi qua hàng ngàn sắc thái ghi-be, ghi phớt-xanh, đen-nâu, nâu đỏ nhạt, ve-nâu. Dân chúng do một linh cảm đầy thương yêu đối với phong cảnh của mình, mặc những bộ quần áo có mầu hòa hợp với bối cảnh: đó chỉ là những áo dài vải thô, những quần áo rách rưới một mầu đỏ gạch đã phai. Dưới chân tôi, những khối nâu đó đang cử động trên những chiếc thuyền mành bằng gỗ tốt màu đen hoặc mầu gụ; chiếc cầu tre nhỏ cong xuống dưới sức nặng một người phụ nữ đang đi qua. Cô in hình rõ hơn trên những tia phản chiếu một mâu vàng óng đã xỉn của mặt nước; quần rộng, áo dài mầu đất, vạt bay phấp phới, một chiếc khăn buộc quanh má. Đội trên dầu một sọt đất hoặc than bùn, cô đi qua với dang điệu kiểu Gauguin. Phía trên cô tôi nhìn thấy những chiếc thuyền đánh cá đang lướt đi. Mầu vàng rơn hoặc vàng gạch, hay vàng-lụ hoặc xám. Gió thổi, nước vỗ bập bềnh vào mạn ván một chiếc thuyền mành buộc. Một chiếc thuyền bé tí, chất đầy người lướt nhanh phía xa; trong đêm đang xuống, tôi nhìn thấy bóng dáng những người lái đò đứng ở mũi hay ở đuôi thuyền, cúi rạp mình xuống một cái chèo giống như chèo của những người lái gông-đôn; đôi khi họ hát một câu hát lanh lảnh, vừa buồn lại vừa nhỏ nhẹ, hoàn toàn là những chuyển gam không sao nắm bắt được. Nếu có một làn mưa bụi cứ xuyên qua anh bằng muôn ngàn cái kim vô hình thì những người lái thuyền lại khoác một cái tơi bằng lá khô, mầu rơm, khiến họ giống những con chim xù lông lên vì gió. Cao hơn, xa hơn, trời nước hòa lẫn vào nhau, mà không hề làm vướng tầm nhìn; dường như những con người bé tí cứ vừa bị lạc trong không gian rộng vậy, vừa được che chở bởi một sự thống nhất thật lớn, trí óc không hề bị mất hướng mà mở rộng ra hòa lẫn với khí quyển; ta không còn có thể biết ở sâu trong ta, đâu là kết thúc của các náo động và các tia phản chiếu thế giới – và ở phía ngoài ta, đến tận đâu tỏa lan các suy tư thầm kín nhất. Lúc ấy nếu ta nghĩ tới các họa sĩ Trung Quốc, tới các quỷ thần bí ẩn của đất này, tới Đạo giáo, Phật giáo – tới tất cả cái tư duy cứ không ngừng làm thế giới chao đảo bên bờ vô thức, người ta cảm thấy có thể hiểu được nó: những mầu xám, bầu không khí tràn ứ nước đã tạo cho anh một tâm hồn mới, trong chốc lát.

Dường như tôi đã trích dẫn của Jean Tardieu hơi nhiều thì phải. Nhưng biết làm sao được, không thể nói về ông mà không dẫn ra những đoạn trong Thư Hà Nội, mà một khi đã trích thì lại không thể nào bỏ lửng giữa chừng. Thế thì thật chẳng khác nào người ta đưa vào dưới mũi bạn một chén trà ướp sen thơm tuyệt mà lại chỉ được ngửi chứ không được nhấp thử. Cái thú thưởng văn so với thú ẩm thực nào có khác nhau là mấy đâu.

Bạn đã ở Hà Nội mấy chục năm hay bạn chưa từng đặt chân đến Hà Nội ? Bạn đã bao giờ tự hỏi Hà Nội, bên ngoài những xấu, bẩn, nhằng nhịt, cái đẹp thực sự nằm ở chỗ nào chưa ? Những bức thư của Tardieu nói rằng nó chả ở đâu cả vì nó ở khắp nơi. Những gì bạn nhìn thấy bên ngoài chỉ phản ánh một phần những suy nghĩ bên trong của chính bạn mà thôi. Có lẽ vì thế mà chúng ta không bao giờ là tác giả của Thư Hà Nội được.

Khiến tôi yêu và phục Jean Tardieu nhất lại không phải là những dòng văn tả cảnh mà là những gì ông cảm thấy ở người dân xứ An Nam:

Bức thư ngày 24 tháng Giêng
Để có thể nhất quán với tính tiền hậu bất nhất của tôi bỗng nhiên tôi tự hỏi: có lẽ có thể đúng là dân Việt Nam sung sướng hơn từ khi chúng ta che chở họ (hơi theo kiểu Arnolphe che chở tuổi trẻ của Agnès! Các khoảng cách ghê gớm về giầu nghèo trước đây tồn tại giữa các đẳng cấp khác nhau của vương quốc cũ có hơi giảm đi; một người An nam, nhân viên nhỏ trong một cơ quan Pháp, chắc chắn giầu hơn, tự do hơn, sung sướng hơn so với khi làm thư lại phục vụ một quan lại. Và lại còn y học. Rõ ràng là dịch bệnh giảm xuống. Dân số An Nam tăng lên khá hơn căn cứ trên thống kê. Và sự thực thì người nông dân hèn kém nhất nếu bị ốm, thay cho những loại thuốc dựa trên kinh nghiệm chủ nghĩa, có thể được một thầy thuốc người Pháp tốt săn sóc không mất tiền. Nhưng đây chính lại là vấn đề: một con người có sung sướng hơn khi phục vụ một ông chủ hiền lành và khoan dung nhưng lại là một người nước ngoài, không hiểu gì anh ta, so với việc phải chịu những đòn roi mây quen thuộc từ phía một ông chủ tàn ác nhưng cùng giống nòi, có cùng tập quán và nói cùng ngôn ngữ với nạn nhân của ông ta không? Và có phải được chết bằng một vị thuốc đã lần lượt giết hết các tổ tiên anh ta. từ hàng trăm thế hệ này, còn hơn là khỏi bệnh trong một nhà thương xa lạ, trong một nhà thương xa lạ, trong một không khí khiến anh khó chịu so với các thói quen suy nghĩ và nhìn nhận của anh không? Có lẽ có một cách để hợp tác với dân tộc này, điều khiển không thô bạo, tìm cách đi theo hướng của họ chứ không phải buộc họ về phía mình, không thể để họ cảm thấy áp lực quyền uy, tranh thủ được lòng tin của họ, Nhưng như vậy phải có rất nhiều sự tinh tế và trí thông minh, một lòng tốt không nhu nhược, một ý chí muốn thích nghi, mà những người ở đây đã không có. Lý ra phải cử đến đây, không phải những kẻ tầm thường những người “trung bình”, mà những con người hành động và những quan chức hành chính giỏi nhất. Có bao nhiêu quan điểm sai, bao nhiêu lầm lẫn người ta đã bắt họ phải nuốt cho kỳ được. Thật đáng buồn khi nghĩ rằng ở Đông dương không còn những trường trong đó có dạy chữ Nho, rằng ký ức tinh thần và nghệ thuật của nước Trung hoa, trong nền văn hóa Việt Nam trước đây, vốn đóng vai trò giống như văn hóa cổ đại Hy Lạp ở nước chúng ta, đã mất dần, và thay cho nhiều tính trí tuệ đến vậy, thay cho bao nhiêu sự cao thượng tinh thần ấy, người ta lại nhét vào óc trẻ con tất cả cái gì xoàng xĩnh tẻ nhạt nhất của nền dân chủ những ông Homais – tinh thần “trường xã”, các “nguyên lý bất diệt” của năm 89 và quy tắc động tính từ mà những đầu óc thiên về tỉnh lược này chẳng biết dùng làm gì. Trong khi một thực dân thực thụ, nếu ông ta muốn con cái người bồi của ông ta biết đọc trong nguyên văn thơ của André Theuriet và nắm được ngày tháng chiếm lĩnh La Rochelle, thì ông ta lại chẳng quan tâm gì đến việc hiểu biết xứ sở nơi ông đang sống: người ta đã xây những biệt thự trung cổ, vạch những đại lộ gợi nhớ nhiều nhất tới con “đường dạo chơi Victor Hugo” muôn thuở, hay “phố Jules Ferry” của các tỉnh lẻ của chúng ta: người ta có những khách sạn và cầu thang máy, những quán cà phê có trò chơi bi a – tất cả những cái đó để giấu đi vẻ duyên dáng thầm kín của các ngôi chùa, những phố Tàu quanh co ầm ĩ, nói tóm lại, để quên đi được nhiều nhất xứ sở này, nơi người ta biết rõ là dù sao vẫn đang sống tại đấy. Có
quan trọng gì nếu các cây “tiêu huyền” viền quanh đại lộ này thực ra là những cây bạch đàn hoặc cây cao su nếu, hơi nhấp nháy mắt, người ta đã tưởng như đang ở tỉnh lỵ Pontoiser!


Đúng là viết dài quá rồi. Lại một lần nữa, biết làm sao được ! Lỗi này là tại ông, Jean Tardieu ạ.

Nếu ngay bây giờ Jean Tardieu đang đứng trước mặt tôi, tôi sẽ tiến về phía ông và nói: “Bác Jean, bác có muốn đi làm một cốc bia với cháu không ? ”
Hoặc cũng có thể ông sẽ khoái cafe Hà Nội hơn. Tôi bao.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *